11/09/2015

Kinh Nhân - Quả

Một hôm, Tôn giả A Nan Đà, ở trên hội Linh Sơn cùng với một ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ Kheo câu hội.
Khi ấy A Nan Đà tôn giả, chắp tay đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi quỳ xuống thưa thỉnh đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rằng:
- Bạch Thế Tôn! Đến thời mạt pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo, không trọng cha mẹ, không có tam cang. Năm giềng rối loạn, nghèo khó, thấp hèn, sáu căn chẳng đủ, trọn ngày sát sinh hại mạng, cho đến nghèo giàu sang hèn không đồng nhau. Do nhân duyên quả báo gì khiến nên như thế? Cúi xin đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc.
Phật bảo A Nan cùng các đại đệ tử: "Lành thay! Lành thay! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ."
Tất cả nam nữ ở thế gian giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ đời trước mà cảm quả báo.
Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát mà phóng sanh, và thứ tư cần ăn chay, bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau.
Phật liền nói bài kệ nhân quả rằng:
Giàu sang đều bởi mạng
Đời trước có tu nhân
Ai thọ trì Kinh nầy,
Đời đời hưởng phước lộc.
Thiện nam, tín nữ nghe ta nói:
Suy nhớ Kinh Nhân Quả Ba Đời,
Nhân quả ba đời việc chẳng nhỏ,
Phật nói lời thật chớ chê khinh.
1. Đời nay làm quan do nhân gì?
Kiếp trước vàng ròng thếp tượng Phật
Đời nay hưởng bởi nhân xưa
Đai vàng, áo tía, cầu nơi Phật.
Vàng trang nghiêm Phật, trang nghiêm mình.
Làm đẹp Như Lai, đẹp tự thân.
Đừng bảo làm quan là chuyện dễ,
Không tu, phước ấy đến từ đâu?
2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì?
Kiếp trước làm cầu, bồi đắp lộ.
3. Do nhân duyên gì mặc gấm vóc?
Đời trước thí áo giúp Tăng Ni.
4. Có ăn, có mặc do nhân gì?
Xưa giúp kẻ nghèo cho ăn uống.
5. Ăn mặc thiếu thốn bởi nhân chi?
Kiếp trước một nửa không xả thí.
6. Lầu cao nhà lớn do nhân gì?
Xưa lên chùa am cúng thí gạo.
7. Phước lộc đầy đủ cho nhân gì?
Xưa lập chùa am cất nhà mát (1)
8. Tướng mạo xinh đẹp do nhân gì?
Đời trước hoa tươi cúng dường Phật.
9. Thông minh trí tuệ do nhân gì?
Kiếp trước ăn chay, thường niệm Phật.
10. Người thấy vui mừng do nhân gì?
Xưa kết duyên lành cùng đại chúng.
11. Chồng vợ bền lâu do nhân gì?
Đời trước tràng phan nghiêm cúng Phật.
12. Cha mẹ song toàn do nhân gì?
Đời trước kính trọng người cô độc.
13. Không cha mất mẹ do nhân gì?
Kiếp trước là người đánh bẫy chim.
14. Con cháu đông nhiều do nhân gì?
Đời trước mở lồng thả chim thú.
15. Nuôi con không được do nhân gì?
Xưa sinh con gái dìm cho chết (2).
16. Đời nay không con do nhân gì?
Kiếp trước bẻ gãy hại trăm hoa. (hoa biết nói)
17. Đời nay sống lâu do nhân gì?
Kiếp trước mua vật phóng sinh nhiều.
18. Đời nay mạng yểu do nhân gì?
Kiếp trước xẻ thịt giết chúng sinh.
19. Đời nay không vợ do nhân gì?
Kiếp trước tham mưu gian vợ người.
20. Đời nay ở góa do nhân gì?
Kiếp trước buông lung khinh rẻ chồng.
21. Làm thân tôi đòi do nhân gì?
Kiếp trước quên ơn cùng phụ nghĩa.
22. Đời nay mắt sáng do nhân gì?
Kiếp trước cúng dầu đốt đèn Phật.
23. Đời nay đui mù do nhân gì?
Kiếp trước chỉ đường chẳng phân minh.
24. Môi miệng sứt thiếu do nhân gì?
Kiếp trước thổi tắt đèn cúng Phật.
25. Đời nay câm điếc do nhân gì?
Xưa từng ác khẩu mắng cha mẹ.
26. Đời nay lưng gù do nhân gì?
Kiếp trước chê cười người lễ Phật.
27. Tay bị cong quẹo do nhân gì?
Đời trước đều là người tạo nghiệp.
28. Chân bị co rút do nhân gì?
Kiếp trước ngăn đường đánh cướp người.
29. Làm thân trâu ngựa do nhân gì?
Xưa thiếu nợ người không chịu trả.
30. Đọa làm heo chó do nhân gì?
Kiếp trước lừa gạt phỉnh hại người.
31. Đời nay nhiều bệnh do nhân gì?
Xưa đem rượi thịt bày cúng Phật.
32. Đời nay không bệnh do nhân gì?
Xưa thí thuốc men cứu bệnh nhân.
33. Hằng bị lao tù do nhân gì?
Kiếp trước làm ác chẳng nhượng người.
34. Đời nay chết đói do nhân gì?
Kiếp trước thường lấp hang rắn chuột.
35. Bị thuốc độc chết do nhân gì?
Kiếp trước dăng lưới giết hại cá.
36. Nổi trôi cơ khổ do nhân gì?
Ác tâm lấn hiếp mưu hại người.
37. Đời nay lùn bé do nhân gì?
Kiếp trước xem Kinh để dưới đất. (3)
38. Nay thường thổ huyết do nhân gì?
Xưa ăn thịt rồi đi tụng Kinh. (4)
39. Đời nay ngu điếc do nhân gì?
Kiếp trước tụng Kinh chẳng lắng nghe.
40. Ghẻ lác phong điên do nhân gì?
Xông hơi thịt cá trước bàn Phật.
41. Thân có mùi hôi do nhân gì?
Xưa bán hương thơm trọn dối gian.
42. Đời nay chết treo do nhân gì?
Kiếp trước đem dây săn bẫy thú.
43. Quan quả, cô độc do nhân gì?
Xưa thường ganh ghét hiềm mắng người.
44. Sét đánh lửa thiêu do nhân gì?
Cân non, giạ thiếu lòng gian xảo.
45. Rắn cắn cọp ăn do nhân gì?
Kiếp trước gây oan tạo đối đầu.
Muôn việc mình làm lại mình chịu
Thọ khổ địa ngục oán trách ai?
Đừng nói nhân quả người không thấy.
Xa trả con cháu, gần trả mình.
Chỉ nhìn trước mắt người hưởng phước.
Sẽ tin bố thí với trì trai.
Kiếp trước tu nhân nay hưởng quả.
Đời này tu tích để về sau.
Nếu ai hủy báng Kinh Nhân Quả
Kiếp sau đọa lạc mất thân người.
Kẻ nào thọ trì Kinh Nhân Quả
Chư Phật, Bồ Tát đều chứng minh
Kẻ nào biên chép Kinh Nhân Quả,
Truyền đời tu học, đạo nhà hưng.
Ai mà mang đội Kinh Nhân Quả,
Tai hung, hoạnh họa chẳng vào thân.
Nếu người giảng nói Kinh Nhân Quả,
Đời đời kiếp kiếp được thông minh.
Kẻ nào đề xướng Kinh Nhân Quả
Đời sau người thấy sinh cung kính
Người nào ấn tống Kinh Nhân Quả
Kiếp sau sẽ được thân Đế Vương.
Theo Kinh Nhân Quả hỏi đời trước
Chính sự thọ hưởng của đời nay.
Theo Kinh Nhân Quả hỏi đời sau
Chính sự gây nhân của kiếp này.
Nếu như nhân quả không cảm ứng,
Do đâu Mục Liên cứu được mẹ?
Người nào tin sâu Kinh Nhân Quả,
Đồng sinh Tây phương cõi Cực Lạc.
Nhân quả ba đời nói không hết
Thiên long chẳng bỏ ý người lành.
Nên ngôi Tam Bảo ruộng phước lớn,
Nhân tu tuy một, hưởng muôn ngàn.
Gởi kho bền chắc không hư mất, (5)
Nhiều đời thọ dụng phước vô cùng.
Muốn biết nhân đời trước
Xem sự hưởng đời nầy.
Muốn biết quả đời sau
Xem việc làm kiếp nầy.
 ***
BÁT NHÃ TÂM KINH
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh.
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức diệt phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng! Bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô Sắc, vô Thọ, Tưởng, Hành, Thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô Nhãn Giới, nãi chí vô Ý Thức Giới; vô Vô Minh, diệc vô Vô Minh tận; nãi chí vô Lão Tử, diệc vô Lão Tử tận; vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo; vô Trí, diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú. 
   Tức thuyết chú viết: 
   "Yết đế, Yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha." ( 3 lần)
***
TÁN PHẬT
Đại Từ, Đại Bi thương chúng sanh
Đại Hỷ, đại Xả cứu muôn loài
Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm
Đệ tử chí tâm quy mạng lễ.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. ( 3 lần)
Nam mô A Di Đà Phật. ( 3 lần)
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. ( 3 lần)
Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. ( 3 lần)
Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. ( 3 lần)
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. ( 3 lần)
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. ( 3 lần)
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. ( 3 lần)
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. ( 3 lần)
Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát. ( 3 lần)
***
VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN:
Nam mô a di đa bà dạ. Đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đa tất đam bà tỳ. A di rị đa tỳ ca lan đế. A di rị đa tỳ ca lan đa. Dà di nị dà dà na. Chỉ đa ca lệ ta bà ha. ( 3 lần)
 ***
SÁM HỐI
Đệ tử vốn tạo các vọng nghiệp,
Đều do vô thỉ tham, sân, si,
Từ thân, miệng, ý phát sanh ra,
Đệ tử thảy đều xin sám hối.
Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát. ( 3 lần)
***

THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN:

Ly bà ly bà đế, Cầu ha cầu ha đế, Đà la ni đế, Ny ha ra đế, Tỳ lê nễ đế, Ma ha dà đế, Chơn lăng càn đế, ta bà ha. ( 3 lần)
Cúi đầu quy y phép Tô Tất Đế
Thành tâm đảnh lễ đấng Thất Cu Chi
Đệ tử xưng tán đức Đại Chuẩn Đề
Nguyện Đức Từ Bi xót thương gia hộ.
 ***
CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ
Nam mô tát đa nẫm, Tam miệu Tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiết lệ, chủ lệ Chuẩn đề, ta bà ha. ( 7 lần)
 ***
DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHƠN NGÔN
Nam mô bạt già phạt đế, bệ sát xã, lu lô tịch lưu ly, bác lặc bà, hát ra xà dã. Đát tha yết đa da, a ra hắc đế. Tam miệu tam bột đa da, đát điệt tha. Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế, tóa ha. ( 3 lần)
 ***
TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN
Chúng sanh không số lượng,
Thề nguyện đều độ khắp.
Phiền não không cùng tận,
Thề nguyện đều dứt sạch.
Pháp môn không kể xiết,
Thề nguyện đều tu học.
Phật Đạo không gì hơn,
Thề nguyện được viên thành.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. ( 3 lần)
 ***
SÁM HỐI NGUYỆN
Cúi đầu đảnh lễ Như Lai,
Chứng minh đệ tử ngày nay phát nguyền.
Con xin đem dạ chí thiền,
Thành tâm sám hối nghiệp khiên đã làm.
Bởi xưa chưa rõ dạ phàm,
Nên chi kết tạo dây oan cõi trần,
Gây ra tội lỗi vô ngần,
Luân hồi trả quả lắm phần đớn đau,
Vào sanh ra tử đã lâu,
Dấn thân lao khổ gẫm âu khó lường,
Xuống lên ba cõi sáu đường,
Đền bù với những vết thương lỗi lầm,
Trả vay vay trả trầm luân,
Gian nan thống khổ vô ngần vô biên,
Cũng vì nghiệp báo oan khiên,
Do mình kết tạo triền miên nối đời,
Nếu nay chẳng biết quy hồi,
Ắt thời khó tránh qua đời kiếp sau,
Vậy con thi lễ cúi đầu,
Chí thành sám hối nguyện cầu ăn năn,
Như xưa có phạm điều răn,
Gây nên tội lỗi nhố nhăng đau lòng,
Thì nay lòng dạ ân cần,
Chuyên lo tu luyện chuộc phần tội xưa,
Bao nhiêu nguyện quấy xin chừa,
Bao nhiêu điều thiện sớm trưa phụng hành,
Ngày đêm giữ dạ sắt đinh,
Trau dồi đạo đức Sử Kinh bền lòng,
Nguyện thân ra khỏi bụi hồng,
Muối dưa chay lạt nhiệt lòng say sưa,
Tỉnh hồn chuông sớm mõ trưa,
Nguyện tâm ra khỏi nắng mưa cõi trần,
Xin nhờ Tam Bảo ai lân,
Từ bi hỷ xả thi ân dắt dìu,
Nay con tỉnh biết mọi điều,
Thế gian là khổ, nghiệp chiêu bởi mình,
Từ nay nguyện dứt sự tình,
Say sưa ảo ảnh mến hình mộng du,
Bền lòng giữ chặt điều tu,
Thề không sai lạc mặc dù gian nan,
Chí tâm vững dạ bền gan,
Nguyện không cảm kích thế gian mộng đời.
Nguyện xa bể khổ chơi vơi,
Nguyện thành Phật đạo đến nơi mãn nguyền,
Nguyện cùng cắt đứt dây duyên,
Nguyện rằng dứt khỏi oan khiên kéo dời.
Lòng không say đắm sự đời,
Chuyên cần tu niệm chẳng rời một khi,
Dứt điều luyến ái mê si,
Noi gương bác ái, từ bi trau lòng,
Sửa tâm như đóa liên hồng,
Luôn luôn trong sạch thoát vòng nhiễm ô,
Chí thành miệng niệm Nam mô,
Nguyện lòng con được tính vô hoàn toàn,
Nguyện về nơi cõi Lạc bang,
Nguyện cho ra khỏi những đàng tử sanh,
Cúi nhờ chư Phật chứng minh,
Bao lời sám hối con xin nguyện cầu.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. ( 3 lần)
***
Kệ Kiết Thính Chúng
Chư Thiên, A Tu La
Và Dược Xoa vân vân,
Ai đến nghe Phật Pháp,
Tất cả hãy hết lòng,
Hộ trì Phật Pháp ấy,
Làm cho trường tồn mãi,
Bằng cách thường tinh tấn,
Thực hành lời Phật dạy.
Những người có đức tin,
Đến đây nghe Phật Pháp.
Hoặc ở trên mặt đất,
Hoặc ở trong không gian,
Với thế giới loài người,
Hãy thường hành từ tâm,
Bản thân thì ngày đêm,
Sống đúng với Phật Pháp.
Nguyện cầu mọi thế giới,
Luôn luôn được yên ổn,
Bằng cách phước và trí,
Đều đem làm lợi người,
Để bao nhiêu vọng nghiệp,
Đều được tiêu tan cả,
Siêu thoát mọi khổ đau,
Qui về Đại Niết Bàn.
Hãy xoa khắp cơ thể,
Bằng hương thơm giữ Giới,
Lại mặc cho cơ thể,
Bằng y phục Thiền Định,
Rồi trang điểm tất cả,
Bằng bông hoa Tuệ Giác,
Thì bất cứ ở đâu,
Cũng thường được an lạc.
Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.
***
HỒI HƯỚNG
Tụng Kinh công đức khó nghĩ lường,
Vô biên thắng phước đều hồi hướng,
Khắp nguyện chúng sanh trong pháp giới,
Đều được vãng sanh về Cực Lạc.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện chân trí tuệ thường sáng tỏ,
Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ,
Kiếp kiếp thường tu Bồ Tát Đạo.
Nguyện sanh Cực Lạc, cảnh Tây Phương,
Chín phẩm Hoa Sen là cha mẹ,
Hoa nở thấy Phật, chứng Vô Sanh,
Bồ Tát Bất Thối là bạn hữu.
 ***
TAM TỰ QUY
Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo Đạo cả, phát lòng Vô Thượng. ( 1 lần)
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển. ( 1 lần)
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. ( 1 lần)
 ***
HỒI HƯỚNG CHÚNG SANH
Nguyện đem công đức nầy,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật Đạo.

 **********

Chú Thích: Kinh Nhân Quả Ba Đời

(1) Nhà dưỡng Lão, cô nhi.
(2) Thuở xưa từ Ấn Độ, cho đến Trung Hoa, những nhà nghèo sinh con nhiều nuôi không kham nên dìm cho chết bớt con gái lúc mới sinh ra.
(3) Ngồi dưới đất xem kinh, nên để kinh trên một cái bệ, khinh mạn cũng là nhân của tướng lùn bé. Lễ Phật, khiêm hạ là nhân của tướng cao hơn.
(4) Ăn mặn rồi muốn tụng kinh, phải súc miệng rửa tay, rửa miệng sạch, và tụng chú như sau. Tất được thanh tịnh không tội lỗi: Tịnh tam nghiệp chân ngôn: Um Soa Pha Va Suýt Đà, sạt và đạt ma, soa phạ va suýt đa hàm (7 biến) Aum! Syabhava sudaha, sarva drama svabhava suddhà hàma.
(5) Gởi kho đây không phải đốt giấy tiền vàng bạc gởi vào kho, mà ý nói tiền của thế gian không bền, khi chết rồi phải bỏ lại tất cả. Chỉ có tu phước làm lành ăn chay, tụng kinh, tham thiền, niệm Phật, là kho.
Việt dịch: HT Thích Thiền Tâm
Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật


16 mẹo giúp mọi nhà tự chữa bệnh

Những phương pháp rất đơn giản với nguyên liệu dễ kiếm giúp mọi người tự chữa bệnh tại nhà đã được lương y Nguyễn Hữu Khai chia sẻ trên trang cá nhân.

 - Chữa chứng bệnh trào ngược dịch vị (bị ợ chua, ợ hăng lên cổ): Lấy quả bàng xanh ăn cả vỏ và phần cùi (bỏ hạt). Mỗi ngày ăn 2-3 lần, mỗi lần 5-6 quả.
Mùa có bàng xanh có thể lấy nhiều để dự trữ trong ngăn tủ đá hoặc gọt phần cùi phơi khô cho vào lọ nút kín để sử dụng khi cần thiết.
- Chữa chứng bệnh thấp mề gà (ở dưới lòng bàn chân mọc lên những chùm da dày cộm, đi lại rất đau, cắt đi lại mọc, khoét sâu tới xương rồi cũng bị mọc lại): Lấy vôi tôi hoặc vôi để ăn trầu bôi vào vùng da bị bệnh ngày 1 - 2 lần hoặc 1 lần trước khi đi ngủ.
Kiên trì như vậy 1 thời gian bệnh sẽ tiêu hết.
- Hôi nách: Lấy vôi tôi hoặc vôi ăn trầu bôi một lớp mỏng vào nách sau mỗi lần tắm hoặc 2 - 3 ngày bôi một lần.
- Chứng khô cổ, khô miệng, khô nước miếng: Lấy lá nhãn thêm chút muối nhai hoặc giã nhỏ để ngậm.
- Trong miệng mọc cục thịt dư rất đau đớn: Lấy tóc người một nắm đốt thành than, tán thành bột mịn rồi hòa nước uống.
- Môi miệng lở loét: Lấy sữa ngựa cho vào đĩa phơi nắng là thành bột. Khi trong miệng bị nhiệt sưng, lở loét hòa bột ấy với nước bôi lên là khỏi.
- Khi không may nuốt phải kim khí hoặc thủy tinh: Lấy ống xương chân trước của con dê đốt thành than hòa với nước cơm sôi rồi uống. Vật thủy tinh và kim loại sẽ ra dễ dàng theo đường đại tiện.
- Không may nuốt phải kim khâu: Lấy 3 con ếch sống dùng mắt của nó nuốt vào trong bụng, Kim khâu sẽ gim vào mắt ếch mà theo ra đường đại tiện.
- Khi bị hóc xương: Bắt con vịt buộc chân treo ngược lên lấy nước dãi của nó cho người bị hóc ngậm.
- Trẻ em nuốt phải đồng tiền: Lấy nước sạch đựng trong bát đứng ngoảnh mặt vào vách tường để chén nước ở trước miệng đọc liền một hơi liên tục "Gần thì ra xa thì vào". Không cứ đọc mấy lượt mà khi hết hơi thì thôi.
Sau đó hà hơi vào trong bát nước. Lấy nước đó cho trẻ uống từ từ là đồng tiền sẽ bị khạc ra ngay kể cả đồng tiền ở lâu trong họng đã bị mỡ bám vào.
Đây là phương pháp của Y tổ Hải Thượng Lãn Ông được ông Lãi Đồi truyền cho.
- Chứng đau do sưng tai (tai sưng cả trong lẫn ngoài đau đớn vô cùng): Lấy móng tay người cho lên hòn ngói hoặc hòn gạch sạch rồi nướng cho giòn. Sau đó tán với một ít băng phiến (mua ở tiệm thuốc Bắc).
Lấy một chút bột ấy thổi vào trong tai là khỏi.
- Thối tai chảy mủ: Lấy tóc rối đốt thành than, tán thành bột mịn. Rửa sạch, lau khô lỗ tai sau đó lấy một chút bột thổi vào.
- Trong lỗ tai mọc mụn, sưng đau kể cả khi đã vỡ mủ: Lấy đào nhân (mua ở tiệm thuốc bắc) giã nát, cho chút nước vào ép lấy dầu rồi nhỏ vào trong lỗ tai.
- Răng bị sâu, đau nhức sưng tấy: Lấy rau húng chó, thêm một chút muối giã nát rồi đặt vào chỗ đau.
- Nhức răng, sâu răng có mủ: Lấy một chút bột ngọt (mì chính) đặt vào chỗ đau có thể cho bột ngọt vào bông đặt vào.
- Khi ngủ hay nghiến răng: Khi đi ngủ lấy một chút đường ngậm sẽ không nghiến răng nữa.


Việt Nam trên tạp trí của Pháp năm 1889

   Sưu tầm
   Những hình ảnh rất sinh động và về Việt Nam thời thuộc địa dưới đây được giới thiệu trong tạp chí “Thế giới”, xuất bản năm 1889 tại Pháp.
 Các tay súng An Nam.
Các quý tộc hút thuốc phiện.
Những phạm nhân chờ xét xử.
Áp giải phạm nhân ra pháp trường.
Đao phủ đã sẵn sàng.
Thi thể được đưa vào giỏ và đem chôn.
 Phụ nữ An Nam trong trang phục ngày hội.
Dịch vụ lấy ráy tai dạo.
Các công chức người Pháp tụ tập trên đường phố Hà Nội.
Một con phố Hà Nội
Pháo hạm Claparède Eclair, được sử dụng trong cuộc chinh phục Đông Dương.
Các mặt hàng gỗ mỹ nghệ được bày bán.
Một đám tang của giới quý tộc.
Điểm trông trẻ của nông dân.
Thầy và trò trong một ngôi trường.
Nghi lễ trong đám cưới.
Bữa cỗ dành cho các võ quan trong một ngôi đình.
Một trò đỏ đen bằng các đồng xu trên đường phố.
Thầy bói mù đi hành nghề.
Một vị quan với các tùy tùng.
Quân Pháp đóng trại tại một ngôi chùa lớn.
Hai thợ rèn làm việc.
Nhà thờ ở Nam Định.
Cuộc gặp mặt của các học giả.

10/09/2015

VỊ TƯỚNG GIÀ VÀ CHÀNG LÍNH TRẺ


(Truyện mượn bên otofun của bác Hollyone)



   Trước khi đến xứ Đảo Chìm, tôi muốn mời bạn đọc ghé qua một hòn đảo nổi. Lính Đảo Chìm gọi là Thủ đô Trường Sa. Thủ đô Trường Sa là một hòn đảo rất bé. Nó bé tới mức, người đời khó mà tưởng tượng được. Đến nỗi, một nhà thơ đã phải thốt lên: "Đảo nhỏ quá, nói một câu là hết" (Hữu Thỉnh).

   Tôi đã tới cái hòn đảo "Nói một câu là hết "ấy. Nó chỉ là một vũng cát lờ phờ, to chừng một cái nong phơi thóc, vừa đủ chỗ để dựng một cái lều bạt dã chiến. Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương cũng đã đến đây, đã ngủ một đêm trên hòn đảo này trong một chuyến đi tuần biển. 
   - Vất vả không, các cậu? 

   Tư lệnh hỏi một cậu lính trẻ, tóc đỏ quạch như tôm luộc, da đen cháy, người chắc nịch như một thỏi sắt đã tôi qua lửa. Anh bạn cười khì khì: 
   - Báo cáo bố, cũng tàm tạm thôi ạ! 
   - Ở đây thì mọi thứ đều thiếu thốn rồi. - Giọng Tư lệnh bùi ngùi - Nhưng cái gì cần nhất, cấp thiết nhất, các cậu cứ nói thẳng với mình. Bộ tư lệnh sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ các cậu. 
   - Thế bố cho con được nói thật nhé! 
   - Ừ, thì phải nói thật chứ! - Tư lệnh mỉm cười. - Chả lẽ tớ già thế này, còn lặn lội vượt sóng gió ra đây với các cậu, để rồi rốt cuộc, lại nghe các cậu nói dối à?
   - Nhưng bố không được phê phán con lãng mạn cơ... 
   - Cái thằng! Tao còn lãng mạn hơn mày ấy! 

   Anh lính trẻ nhìn mái đầu bạc trắng của Tư lệnh, cười hồn nhiên: 
   - Thế thì, con đề nghị bố thế này nhé! Bận sau, nếu bố ra đảo, bố chịu khó giắt lưng cho chúng con vài cô gái... 

   Anh lính trẻ bỗng bối rối trước cái nhìn ngỡ ngàng của Tư lệnh. "Thì con đã vòi bố trước rồi, là bố phải tha thứ cho con, không được phê phán con lãng mạn ". 
   - Chúng mày muốn nghe hát hả? Muốn xem văn công hả? 
   - Không, không! - Anh lính bỗng luống cuống. - Con đâu dám có voi đòi tiên! Văn công xem ra xa vời quá! Chúng con chỉ muốn bố mang ra đây vài cô nuôi quân thôi! Các cô ấy chẳng phải hát hò gì. Chỉ mặc tấm áo phin trắng, cái quần lụa đen, đi phơ phất trên đảo, để chúng con ngắm, chúng con "chỉnh "mắt. Chứ mắt mũi chúng con, bố thấy đấy, sang vành hết cả rồi!... 

   Tư lệnh cười ha hả. Anh lính trẻ cũng cười. Chưa bao giờ tôi được nghe cuộc đối thoại kỳ lạ như thế. Sau đó, quả như niềm ao ước của anh lính trẻ, các cô gái lần lượt ra thăm đảo. Không phải cánh nuôi quân mà các cô văn công mặt hoa da phấn hẳn hoi. Trông cô nào cũng đẹp, cũng thơm phức và lộng lẫy như những nàng tiên cá. Các cô múa hát và khâu vá cho chiến sĩ. Nhiều anh áo quần còn mới nguyên, cũng bí mật xé ra, rồi nhờ các cô vá. Thế là từ đấy, lần nào Tư lệnh ra đảo, các chiến sĩ cũng được dự những bữa tiệc mắt linh đình. Nhưng đó là chuyện sau này, còn chiều ấy, ngồi bên Tư lệnh trên mặt cát nóng bỏng như rang, mặc dù mặt trời đã lặn xuống biển lâu rồi, anh lính trẻ quê xứ Nghệ thực sự coi Tư lệnh như một người đồng đội thân thiết. Anh lắc lắc đầu gối Tư lệnh: 
   - Bố thấy Vương quốc của chúng con thế nào? 

   Tư lệnh đưa mắt nhìn suốt rẻo cát trống trơn, rồi lại nhìn cái lều bạt dã chiến cứ hộc lên trong gió tựa hồ một con ngựa bất kham, đang lồng lộn như muốn rứt tung mấy sợi xích sắt căng ghì xuống đảo mà phóng đi cùng bầy gió hoang dã. 
   - Đẹp, nề nếp. Đúng quân phong quân kỷ. Ở đây mà giữ được như thế này là tốt lắm rồi. - Giọng Tư lệnh bỗng bùi ngùi. - Tất nhiên là vất vả! Chúng mày rất vất vả! Tao biết! Nhưng khổ nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hoả của ông cha, thì dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này, ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một ly không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu... 
   - Vâng, con hiểu! Con hiểu, bố ạ! 

   Tư lệnh ôm lấy đôi vai trần cháy khét nắng gió của người lính trẻ xứ Nghệ. Đôi mắt ông bỗng cay xè, ầng ậng nước. Anh lính trẻ cũng nắm chặt bàn tay xù xì thô ráp của Tư lệnh : 
   - Bố đừng lo! Chúng con ở đây quen rồi! Khổ mấy chúng con cũng chịu được! Nhưng đúng như bố nói đấy. Rất vất vả, cực nhọc. Nhiều lúc mệt quá, con liều nghĩ, hay là ta cứ tạm giấu quách đảo đi! 

   Tư lệnh ngạc nhiên: 
   - Giấu đảo à? Mày nói gì lạ thế? Giấu thế nào? 

   Anh lính trẻ vui vẻ : 
   - Bố cứ cho con mượn tạm cái xẻng. Chỉ ba tiếng là con giấu xong đảo thôi! Mà không đến ba tiếng đâu. Chỉ tiếng rưỡi đồng hồ là con xúc xong chỗ cát này cho xuống biển, đố kẻ thù nào nhìn thấy đảo, có muốn cướp đảo cũng chịu! 

   Tư lệnh cười vang, cười đến giàn giụa nước mắt. Rồi ông lóp nhóp đánh xuồng về tàu. Con tàu bấy giờ đang bập bềnh buông neo ngay bên ngoài mép san hô. Và thật bất ngờ, lát sau, ông trở lại với chiếc xẻng còn mới coóng. 
   - Đây! Xẻng đây! Không phải mượn đâu. Tớ tặng luôn cậu đấy để cậu giấu đảo! 

   Cứ tưởng anh lính trẻ sẽ lắc đầu quầy quậy. Nào ngờ anh vồ vập đón chiếc xẻng từ tay Tư lệnh. Và sáng sớm hôm sau, khi Tư lệnh đánh xuồng trở lại đảo thì thấy anh chàng đang cởi trần, sì sụp lặn ngụp cùng với chiếc xẻng của Tư lệnh. Nhưng anh không xúc cát đổ xuống biển, mà lấy cán xẻng khẽ bẩy từng tảng đá chìm sâu dưới mấy mét nước, rồi lụi cụi khuân lên, đắp quanh chân đảo, giữ cho cát khỏi bay 
   - Mày làm cái gì thế mày? Giấu đảo à? 
   - Dạ, báo cáo bố, con mở mang bờ cõi ạ! - Anh lính cười khục khục, gương mặt nhấp nhoá nước. - Mà, mà, đúng ra, đúng ra con chỉ "buông neo" cho Tổ quốc khỏi bị trôi dạt thôi!

Di vật của các Samurai

Đến năm 1861, các chiến binh Samurai bắt đầu hết thời. Nhiều người phải vật lộn với cuộc sống bằng thu nhập rất thấp...

Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Một chuôi kiếm Tachi từ năm 1861 trong Bảo tàng Hoàng gia Ontario ở Toronto, Canada. Đây là vũ khí chuyên dụng của các võ sĩ Samurai Nhật Bản, theo Livescience. Gần đây, giới khoa học vừa giải mã thành công cuốn sách hướng dẫn nhập môn của các môn sinh võ đạo Takenouchi-ryū mà người xưa viết vào năm 1844. Theo cuốn sách, "khi môn sinh có đủ kiến thức, tâm trí họ sẽ quên đôi tay, còn đôi tay không cảm nhận sự tồn tại của thanh kiếm. Đây là trạng thái đòi hỏi học viên phải tĩnh tâm hoàn toàn và chỉ vài người có thể đạt đến cảnh giới này.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Giá gác kiếm Tachi bằng gỗ sơn mài với phụ kiện bằng vàng, bạc. Tuy nhiên, đây là vật dụng dành cho các Samurai giàu và thuộc đẳng cấp cao. Đến năm 1861, các chiến binh Samurai bắt đầu hết thời. Nhiều người phải vật lộn với cuộc sống bằng thu nhập rất thấp.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Vào thế kỷ 19, bộ áo giáp của các chiến binh Samurai bao gồm áo giáp (mempo), mặt nạ. Chúng bảo vệ người mặc và gây sức ép tâm lý lên đối thủ.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Theo các nhà nghiên cứu từ Bảo tàng Hoàng gia Ontario, áo giáp của Samurai được chế tạo từ sắt, viền lụa, da hoẵng và đồng mạ vàng. Ngoài ra, những người thợ cũng gắn thêm các đồ trang trí nhiều màu lên áo giáp.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Trong thế kỷ 19, áo giáp che gần như toàn thân người sử dụng, bao gồm cả những bộ phận như tay, xương chậu, bắp chân, bàn chân. Đây là sự cải tiến khá ấn tượng vì lãnh chúa và các gia tộc lớn ở Nhật Bản đã sử dụng thuốc súng từ thế kỷ 17.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Một nhiếp ảnh gia chụp ảnh chiến binh Samurai mặc áo giáp và cầm kiếm năm 1860. Vài thập kỷ sau, Nhật Bản giải tán tầng lớp võ sĩ, thay bằng chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Hồi ấy phần lớn quân nhân xuất thân từ nông dân.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Mũ sắt của trường Myochin có hình dạng giống mặt yêu tinh. Vào thế kỷ 19, người Nhật Bản sử dụng những cách rất độc đáo để chế tạo mũ giáp cho Samurai.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Khi tình hình xã hội tương đối ổn định, các võ sĩ không phải chiến đấu nhiều nên họ thường đội những mũ có nhiều họa tiết cầu kỳ.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Giới nghiên cứu phỏng đoán thanh Aikuchi trong ảnh từng thuộc về một thương gia. Trước đây, các thương gia chỉ mang dao găm và kiếm ngắn. Kiếm dài là vũ khí dành riêng cho Samurai.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Các nhà nghiên cứu tại Bảo tàng Hoàng gia Ontario cho rằng người Nhật Bản chế tạo bàn đạp trong ảnh vào năm 1852. Các Samurai sử dụng nó khi cưỡi ngựa.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Khẩu súng lục có niên đại vào giữa thế kỷ 19 khi vũ khí nhồi thuốc súng đã trở nên phổ biến ở Nhật Bản.
Di vật của những võ sĩ đạo Nhật Bản cuối cùng
Các võ sĩ tộc Chosyu chiến đấu vì hoàng đế nhằm chống chính quyền quân sự Tokugawa Shogunate trong hai năm 1868 và 1869. Họ hy vọng hoàng đế khôi phục quyền lực tuyệt đối của tầng lớp võ sĩ và trục xuất người nước ngoài. Tuy nhiên, sau khi cuộc chiến giành thắng lợi, Nhật hoàng thi hành chính sách hoàn toàn trái ngược. Ông chuyển sang thân Tây, cải cách quân đội, bãi bỏ chế độ Samurai.