Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

15/07/2026

Phục dựng ảnh Đức Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế

 

 


 

Nam mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Với niềm kính tín của một Phật tử, mạo muội phục dựng. 

Từ những tư liệu lịch sử và nhân chủng học về thân thế Đức Thích Ca Mâu Ni, tôi đã cùng Gemini phục dựng lại hình ảnh của Ngài khi còn tại thế.

Nhưng thực tế, việc tìm lại một hình ảnh chính xác 100% của Ngài qua hội họa hay điêu khắc là điều gần như bất khả thi, bởi những lý do rất khách quan:

- Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, suốt 400 đến 500 năm đầu tiên, nghệ thuật Phật giáo nguyên thủy hoàn toàn không tạc tượng hay vẽ hình hài con người của Ngài. Để tôn kính bậc Giác Ngộ, người xưa chỉ dùng các biểu tượng ẩn dụ: Dấu chân Phật (Phật túc), tòa sen trống, bánh xe Pháp luân (Dharmachakra), hay cội Bồ Đề. Vì vậy, không hề có một bức truyền thần hay pho tượng nào được làm ra khi Ngài còn tại thế để làm khuôn mẫu cho hậu thế.

- Đến khoảng thế kỷ I TCN đến thế kỷ I SCN, những bức tượng Phật hình người đầu tiên mới xuất hiện tại vùng Gandhara (thuộc Pakistan và Afghanistan ngày nay), nơi đang chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Hy Lạp sau cuộc chinh phạt của Alexander Đại Đế. Các nghệ nhân thời bấy giờ đã lấy nguyên mẫu từ hình thể, khuôn mặt thần Apollo để tạc nên tượng Đức Phật: tóc xoăn gợn sóng, sống mũi thẳng cao, mắt sâu, áo cà sa xếp nếp kiểu Hy Lạp cổ. Như vậy, ngay từ bức tượng đầu tiên, vẻ ngoài của Ngài đã mang tính lý tưởng hóa theo nghệ thuật phương Tây.

Nếu gạt bỏ hết các lớp sương mù của nghệ thuật và tôn giáo để trở về với góc nhìn lịch sử chân thật nhất: Ngài sinh ra tại vùng Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu), thuộc tộc người Thích Ca vùng biên giới Ấn Độ - Nepal ngày nay. Ngài mang đặc điểm của người Nam Á: làn da ngăm bánh mật do nắng gió, vóc dáng cao lớn của tầng lớp chiến binh (Kshatriya). Khi ôm bình bát đi khất thực, Ngài cạo tóc, đắp y phấn tảo màu vàng đất hay nâu sồng, đi chân trần trên đất bụi cát, sống một cuộc đời giản dị, hòa mình vào tăng đoàn chứ không hề có hào quang lấp lánh hay y phục gấm vóc như tranh vẽ sau này.

Bởi thế, hình ảnh phục dựng này dù cố bám sát bối cảnh lịch sử đến đâu, cũng chỉ là một sự "phỏng đoán" mang tính chủ quan, một cố gắng lột bỏ bớt lớp áo thần thoại hóa để tìm lại chút dáng dấp phong sương của một bậc tu sĩ lữ hành năm xưa.

Trải qua hơn 2.500 năm, thứ biến thiên nhiều nhất chính là "hình tướng" bên ngoài. Nhưng có lẽ điều cốt lõi còn lại không nằm ở khuôn mặt Ngài vuông hay tròn, da ngăm hay trắng, mà chính là hành trạng, tuệ giác và tinh thần Tự Tại mà Ngài đã chứng ngộ và truyền lại cho nhân thế.

 

06/07/2026

Chùa Báo Ân cuối TK 19

 

Chùa Báo Ân (hay chùa Liên Trì) là ngôi chùa cổ bề thế bậc nhất thành Thăng Long xưa (tôi chưa thu thập đủ thông tin về Chùa nên không dám đăng ở đây), tọa lạc tại bờ Đông hồ Gươm (vị trí Bưu điện Hà Nội hiện nay). Ngôi chùa bị phá dỡ vào năm 1888. Nên phần lớn hiện tại, rất ít người biết đến.

Vì thế, các hình ảnh cuối thế kỷ 19 là chứng nhân thể hiện sự tồn tại vật chất của Chùa. Những bức ảnh này do các nhiếp ảnh gia người Pháp chụp trước hoặc ngay trong thời điểm chùa bị triệt giải:

Bộ ảnh của bác sĩ Hocquard (1884): Bác sĩ quân y người Pháp - Hocquard đã chụp lại toàn cảnh ngôi chùa, ghi lại rõ nét quy mô 180 gian, các hành lang quanh hồ sen và kiến trúc chạm khắc đặc trưng thời Nguyễn.

Ảnh tư liệu của hãng đấu xảo và quân đội Pháp (khoảng 1886 - 1888): Ghi lại hình ảnh ngôi chùa trước khi bị san phẳng để mở rộng không gian quy hoạch thành phố thuộc địa.

Các nguồn rải rác tôi thu nhận được qua các trang đăng công khai, liên quan đến Phật giáo, nhân chủng hoặc văn hóa mà có. 

 

Một bức vẽ thể hiện quy mô hoành tráng, bề thế của chùa Báo Ân

 



 Cổng chùa Báo Ân

 

 

Tháp Hòa Phong, cổng ra Hồ Gươm từ chùa Báo Ân

 


Lối vào chùa năm 1885. Công trình ngoài cùng là tháp Hòa Phong. Nối với tháp Hòa Phong là một cánh cổng nhỏ, phía sau là một cổng khác, trong cùng là tháp chuông.


Khung cảnh nhìn từ cổng trong chùa Báo Ân, 1885


Từ trong khuôn viên chùa nhìn ra phía tháp chuông


Chùa Báo Ân nhìn từ bên ngoài. Công trình bên trái là tháp chuông, bên phải là chính điện, 1885


Chính điện của chùa Báo Ân, 1885


Một bức ảnh chụp chùa Báo Ân từ trên cao, thập niên 1890


28/04/2026

3 Y 1 Bát

 Vũ Thế Thành

 

https://www.compassiontemple.org/wp-content/uploads/2018/11/Ajahn-2.jpg 

Một nhà sư Myanma dừng chân khi đi khất thực

 

Pháp tắc của người tu hành Phật giáo là phải đeo dính Y - Bát bên mình, như loài chim không thể rời lông cánh” (Luật Ma-ha-tăng-kỳ, quyển 8, bài 2).  Nên, “Ba y một bát” là thành ngữ tả Tăng - Ni. Nói tuy gọn vậy, nhưng bên trong có nhiều lắt léo. Tỷ như tiếng là Y nhưng không phải áo, kêu bằng Bát nhưng khác cái tô, cái bát.

Ba Y

Y đây là tấm vải hình chữ nhật, chạy viền bốn cạnh đơn sơ. Do ảnh hưởng trang phục Ấn, Tăng - Ni toàn quấn y, chứ không mặc áo quần như người thường.

Các môn đệ đời đầu của Đức Đức Thích-ca phải mót ba mớ vải vụn, vải dơ người ta bỏ đi rồi khâu lại dùng (Phẩn tảo y), miễn đủ che thân là được. Và vì xứ Ấn nóng nực nên chỉ cần quấn một tấm, tức chỉ Nhất y.

Lần hồi mối đạo phát triển, đàn-na (tựa như fan thời nay vậy) tín thí bắt đầu dâng vải cúng dường. Nhà giàu cúng nguyên khúc vải, nghèo thì hùn cúng mỗi người vài tấc. Nhưng đức Đức Đức Thích-ca không muốn môn đồ mình quấn nguyên tấm vải liền lạc.

Theo Tứ phần luật, bữa nọ tăng đoàn đi ngang cánh đồng, Đức Đức Thích-ca thấy mấy thửa ruộng đều đặn nhìn đã mắt, mới bảo A-nan chế y theo kiểu đó. Tôn giả A-nan cũng rảnh, đem cắt nguyên tấm vải lớn thành nhiều miếng nhỏ hình chữ nhật, theo cỡ dài ngắn đều nhau, rồi may ráp trở lại thành tấm y lớn.

Từ đó có quy định tỳ-kheo chỉ quấn y từ vải cắt nhỏ (Thiện kiến luật, Quyển 7). Đời sau kêu đây là “Phước điền y”, với ý nghĩa đây là thửa ruộng do đàn-na thí chủ gieo trồng phúc đức. Thật  ra hồi xưa, tấm vải nguyên là tài sản đáng giá, nên phải cắt nhỏ ra để khỏi bị bọn cướp lột mất.

Tới nay, trang phục tăng ni tùy thời thế, thung thổ, hệ phái mà đẻ thêm nhiều kiểu, nhưng tấm y choàng (Tăng-già-lê) đều kêu Cà-sa, có vị thế đặc biệt và được giới luật quy định chi tiết, rõ ràng.

Đêm đông nọ trời lạnh. Đức Đức Thích-ca lúc đầu chỉ quấn một y. Nửa đêm thấy hơi lạnh, mới quấn thêm cái nữa. Rạng sáng càng lạnh, phải quấn cái thứ ba. Do đó ông đặt ra ba y cho các tỳ-kheo.

Theo luật Ma-ha-tăng-kỳ (Quyển 8, Bài 1), ba y gồm:

– An-đà-hội (antarvāsa): Quấn khúc dưới, che từ rốn tới đầu gối; tạm kêu y dưới. Quấn khi ngủ hoặc lúc làm lụng.

– Uất-đa-la-tăng (uttarāsavga): Che thân trên, từ vai xuống quá gối; tạm kêu y trên. Quấn thêm khi hội họp hoặc vào chỗ công cộng.

– Tăng-già-lê (aṁghāti): Tấm y to nhất, phủ cả thân từ vai xuống quá bắp chân, còn kêu Đại y; đây tạm kêu y ngoài. Để quấn trong nghi lễ trang trọng.

Đắp thêm y cốt để chống lạnh, nên Đức Đức Thích-ca dặn: y dưới (An-đà-hội) với y trên (Uất-đa-la-tăng) chỉ cần một lớp, riêng y ngoài (Tăng-già-lê) được may hai lớp. Như ai già yếu bệnh hoạn chịu lạnh không nổi, có thể đắp thêm mấy y cũ.

Về sau, các bậc học nhiều hiểu rộng lại cài thêm ý nghĩa, cho là ba y tượng trưng “tam nghiệp thanh tịnh”: Ngũ điều y tiêu trừ Tham thân nghiệp, thất điều y cắt đứt Sân khẩu nghiệp, đại y dứt bỏ Si tâm nghiệp. Làm vậy chẳng qua để nhấn mạnh: Ba y là vật trọng, tỳ-kheo không được rời thân.

Theo Căn bản Thuyết-nhất-thiết Hữu-bộ Tỳ-nại-da (Quyển 17), Đức Đức Thích-ca chỉ quy định khổ vải cho y trên theo chiều đứng là ba cùi chỏ (dang ngang cùi chỏ ra theo động tác quấn y, tính là một chỏ; cỡ tám tấc), rộng năm chỏ; y dưới chiều đứng hai chỏ rưỡi, rộng bốn chỏ rưỡi. Tức là hồi đầu, mạnh ai nấy tùy cỡ người mà may y, miễn vừa vặn là được.

Chừng có Phước điền y, mới đặt ra lệ ráp mớ vải cắt nhỏ kia thành nẹp, theo chiều dọc. Cứ nẹp nầy miếng ngắn trên miếng dài dưới, thì nẹp kế ráp so le miếng ngắn dưới miếng dài trên. Số nẹp luôn là số lẻ, để hai nẹp ngoài cùng cân đối cho vừa mắt.

Hồi đó Đức Đức Thích-ca quấn hoài một Tăng-già-lê, tấm y trắng lâu ngày ố màu rồi sạm đi. Nên y Tăng-già-lê còn kêu Cà-sa, là phiên âm từ Phạn ngữ “Kaṣāya”, nghĩa là sạm màu (Hoại sắc); ý nói manh áo cũ mặc lâu ngày. Cà-sa bởi vậy luôn có màu tối.

Theo Bách nhất Yết-ma (Quyển 9), cà-sa có ba màu căn bản: “Cà-sa phải nhuộm cho hoại sắc, thành ra xanh đen (màu rỉ đồng), hoặc thâm (màu bùn), hay vàng nghệ (màu đất nung)”.

Tùy nguyên liệu nhuộm mà màu y mỗi xứ có khác nhau. Ở Ấn Độ, tăng sĩ mặc y vàng nghệ hoặc nâu đỏ. Bên Tàu thời xưa thì cà-sa đỏ, sau nầy thêm màu đen, xanh và vàng đậm. Màu y của thầy chùa Việt thì tùy, Bắc tông khoác cà-sa vàng, Nam tông quấn y theo truyền thống, thường nâu đỏ, đỏ đậm hay vàng đậm.

Tóm lại, Tam y là nói chung bộ đồng phục dành cho hàng Tỳ-kheo đã thọ đủ giới luật (Cụ túc giới), được ấn chứng đàng hoàng. Còn hàng Sa-di chỉ được quấn Mạn y (Paṭṭa) là loại y trơn, vải liền, tuy tương tự nhưng không có nẹp. Nó tựa như áo măng-tô trong bộ cảnh phục: phải đại tá công an trở lên mới được khoác, cỡ hạ sĩ quan làng nhàng đố dám mặc.

Có điều, mặc láo cảnh phục có thể đi tù; nhưng quấn láo ba y đội lốt tỳ-kheo, thì chưa từng thấy đứa nào ăn bạt tai. Bởi vậy tụi đó đâm lờn, để đời nay chiếc áo lại làm nên thầy tu.

***

Một Bát

Bát đây là cái tô đựng cơm, một trong sáu pháp khí thiết thân của thầy chùa.

Bình bát nếu kêu đầy đủ là Bát-đa-la (pātra – cái bát, cái tô), danh từ mượn của đạo Bà-la-môn. Theo Ma-nô Pháp luận (Chương 6), cuộc đời một Bà-la-môn chia làm bốn giai đoạn, tới giai đoạn cuối là lúc cầu giải thoát, tốt nhât nên vào rừng núi ẩn dật, sống đời đạm bạc, bưng bát xin ăn, chỉ cầu đủ ngày một bữa. Bình bát Bà-la-môn đều bằng sành hoặc gỗ, tuyệt đối không dùng bát kim loại.

Còn bình bát Phật giáo thì theo kinh Đại phẩm, khi Đức Đức Thích-ca thành đạo, có hai anh em lái buôn tới cúng dường bánh bột gạo với mật ong. Đức Phật phân vân vì không thể trực tiếp thọ nhận bằng tay không. Tứ đại Thiên vương liền hiện thân, mỗi vị dâng lên một Bát-đa-la đặng đựng đồ ăn. Đức Thích-ca chồng cả bốn trên lòng bàn tay trái, lấy tay phải ép lại thành một bát đá để thọ thực.

Vì dùng để đựng vật thực do bá tánh bố thí, nên bình bát cũng tượng trưng “Phước điền”.

Có quy định nghiêm ngặt trong việc dùng bát, phải bưng bát đúng điệu bộ nghiêm chỉnh đàng hoàng cho ra oai nghi Tỳ-kheo. Nếu bát hư hoặc lủng, phải đắp vá lại xài tiếp, chừng nào lủng hơn ba lỗ mới thay bát khác.

 Bát của tăng ni luôn có phần bụng phình ra, miệng khum, đáy thu nhỏ.

Luật Tứ phần quy định bình bát phải đủ ba tiêu chuẩn:

a) Thể tương ứng: Thể đây là chất liệu. Bát phải làm bằng thứ rẻ tiền, để khỏi gợi lòng tham. Chỗ này mấy thầy chùa hay làm bộ bí hiểm, nói chỉ Đức Thích-ca mới được xài bát đá. Thiệt ra thiếu cha gì chất liệu bền tốt, gọn nhẹ; đâu ai rảnh bắt chước Giáo chủ, đi xài thứ bát đá dễ nứt bể.

Cụ thể, theo kinh Tiểu phẩm, Đức Thích-ca nói: “Này tỳ-kheo, đừng ham xài bình bát bằng vàng, bạc, ngọc ma-ni, ngọc bích, pha-lê, đồng đỏ, chì, thiếc, đồng thau. Đứa nào làm vậy là phạm tội Đột-cát-la (Dukkata). Này tỳ-kheo, ta chỉ cho dùng bát sắt với bát sành”.

b) Sắc tương ứng: Bát phải một màu tối (đen, nâu, xám), để tỳ-kheo khỏi sinh lòng gắn bó.

Ngoài ra trên thành bát, cả trong lẫn ngoài đều không được vẽ vời, khắc chạm hoa văn hay gắn thêm trang trí, cũng không được ngựa bà, đánh bóng cho láng coóng lên (nếu lỡ nhận được bát có trang trí phải mài bỏ hoa văn, bát sáng bóng phải mài cho bớt sáng).

c) Lượng tương ứng: Lượng là sức chứa (dung tích), chỉ vừa đủ ăn, để tỳ-kheo khỏi ham ăn ham uống.

Tứ phần luật chép có ba cỡ bát: nhỏ, vừa và to. Đại khái từ 0.9~1.8 lít.

Dùng bát lớn nhỏ tùy sức ăn mỗi người, nên Tàu có khi lấy nghĩa, dịch chữ Bát-đa-la thành Ứng lượng khí 應量器

Và Tỳ-kheo phải dùng bữa bằng bát đó, tuyệt không dùng tô bát như người thế tục.

Các Tỳ kheo để bát dưới đất thường khi bị lật, đổ cơm canh ra ngoài. Đức Thích-ca mới bảo: “Tụi bây có thể dùng đồng, sắt, sừng, ngà, ngói, đá, gỗ… làm thành cái đế, để giữ bát cho vững; hoặc lấy rơm cỏ lót đít bát cũng đặng”. Đế này kêu “Bát chi”.

Thêm Bát chi thành ra vướng víu, tụi Tỳ-kheo nhiều khi lọng cọng, làm rớt bể bà nó bát. Đức Thích-ca lại bày may túi vải để đựng cho gọn, kêu “bát nang”. Đây là tiền thân cái tay nãi các thầy chùa ngày nay thường đeo bên mình.

Rồi tới cái nắp. Nắp này không có trong Phật chế, nhưng nay thầy chùa thường dùng, nhất là nhánh Nam truyền. Nắp đậy để tránh cát bụi hoặc ruồi bu kiến đậu, làm dơ cơm canh. Ngoài ra khi khất thực, còn có thể dùng nắp này làm đế.

Tóm lại, bình bát là đồ nghề kiếm ăn của hàng Tỳ-kheo. Bất cứ đứa nào không phải Tỳ-kheo mà ôm bình bát hay thứ gì đó, có hình dạng hoặc công dụng tương tự, đều quân lừa đảo đội lốt thầy chùa.

* * *

Vậy đó, ba y một bát là pháp khí thiêng liêng, Tỳ-kheo phải giữ kỹ cho tới trót đời.

Người ta thường nói thầy chùa là kẻ đã từ bỏ mọi thứ trên thế gian. Ít ai biết họ có thứ cuối cùng không thể xả bỏ, chính là ba y một bát. Nhất là cái cà-sa (tăng-già-lê). Thứ gì cũng bỏ được, kể cả tượng Phật bên mình, nếu cấp thiết cũng có thể bỏ đi, nhưng cà-sa phải giữ tới cùng.

***

Giải thích:

·         Cụ túc giới 具足戒 (Upasampadā): Đã thọ trì trọn đủ Giới luật. Khi thọ Cụ túc là chính thức thành tỳ-kheo. Tỳ-kheo tăng có 250 giới phải giữ, tỳ-kheo ni 348 giới. Trước đó sa-di có thể tùy căn cơ mà rút ra năm bẩy giới làm phương tiện tu tập lần lần. Chừng nào giữ được hết thẩy 250 giới luật đó mới là Cụ túc. Kèm theo nhiều điều kiện: từ 20 tuổi trở lên, thân thể tráng kiện, tinh thần khỏe khoắn, có đủ lục căn (không bị mù, câm, điếc, lé…), không có tiền án, đủ tướng xuất gia (không bị gù, niễng). Thọ giới Cụ túc tức là đã đủ sức xa lánh mọi tội ác trong mọi hoàn cảnh (điều nầy tất nhiên chỉ là lý thuyết, còn thực tế hổng phải ai cũng được vậy). Khi thọ giới Cụ túc, phải có đủ ba thầy truyền giới, bảy vị chứng minh v.v…

·         Tỳ-kheo Lục vật, gồm: tam y (tính là ba món), cộng với bình bát, bồ đoàn, túi lọc nước.

·         Đột-cát-la (Duṣkṛta): Loại tội nhẹ, chỉ cần hối lỗi trước người bị phạm (khi cố ý phạm), hoặc ăn năn tự trách (khi không cố ý phạm) là được.

·         đời nay nhà chùa cũng du di, cho xài bát nhôm và bát inox, vì vừa rẻ vừa bền lại tiện dụng.

·         …Còn nhiều lắm, nhờ các bạn tìm thêm trên net hộ nhé.