Hiển thị các bài đăng có nhãn Nếp xưa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nếp xưa. Hiển thị tất cả bài đăng

02/07/2026

Nhìn tờ cáo phó, nghĩ về chữ Thọ

 Nhờ ChatGPT sắp xếp đoạn, thêm chữ cho xuôi, mượt và biên tập.

 


 

Tranh do ChatGPT tạo

 Hôm qua lại nhận được một tin buồn. Nhìn tờ cáo phó, mình không ngạc nhiên, bởi cũng gần trăm tuổi rồi. Già yếu, bệnh tật quấn thân, khổ mình, lụy người tâm muốn chết là có.

Cáo phó như tờ giấy trích ngang một đời người, dù hình thức có thế nào cũng chỉ là báo tin một người đã về cõi vĩnh hằng, xa lìa trần gian, mọi sự rồi cũng không liên quan nữa.

Nhìn vài dòng ngắn ngủi ấy mới thấy, cả một đời người cuối cùng cũng thu lại trong mấy con số và vài câu chữ. Bao bon chen, hơn thua, giận hờn rồi cũng theo người nằm xuống. Chỉ có những gì đã sống với người khác còn ở lại trong ký ức của họ.

Chuyện sống - chết ở đời là lẽ đương nhiên. Sinh ra là đã bắt đầu đi trên con đường ấy. Con người trải qua xuân, hạ, thu, đông; sinh, lão, bệnh, tử - vòng tuần hoàn ai tránh khỏi. Có người sống thọ rồi thanh thản về với tổ tiên, cũng có người mang bệnh mà ra đi. Gương mặt cũ nhường chỗ cho gương mặt mới, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia.

Thọ là khi còn sức khỏe để tự lo cho mình, minh mẫn để giao tiếp với đời (Khang - Mẫn), chứ chân yếu, tay mềm, nói lăng phều phào, quên trước lẫn sau khổ lắm.

Ai chả muốn sống lâu, sống thọ nhưng rồi thực tế là có mấy ai trăm tuổi còn khang mẫn, mấy ai trăm tuổi mà có người chăm nom tử tế hoặc có nguồn tài chính dồi dào để lo thân.

Có lẽ, điều đáng quý không phải là sống được bao nhiêu tuổi, mà là sống đến tuổi nào vẫn còn khỏe để tự lo cho mình, còn minh mẫn để nhận ra người thân, còn đủ vui để thấy cuộc đời vẫn đáng sống. Khi ấy, chữ Thọ không chỉ được đếm bằng năm tháng, mà còn được đo bằng chất lượng của những ngày còn lại.

Nghĩ vậy nên đầu xuân năm mới, mình vẫn xin hai chữ "Khang - Mẫn" treo cạnh bàn thờ. Với mình, có được hai chữ ấy thì chữ Thọ đã đủ đầy.

04/06/2026

Đại La – Thăng Long, nơi khơi thông long mạch, giải phóng nội lực dân tộc

 

  

Đây là bức họa do trí tuệ nhân tạo (Gemini) tạo ra dựa trên cảm hứng về kinh thành Thăng Long thời Hậu Lê. Dù mang lại hiệu ứng thị giác lập thể rất đẹp và gợi lên không khí cổ kính, nhưng bức họa này chỉ mang tính chất ước lệ, nghệ thuật, có nhiều điểm sai lệch so với địa lý và phương hướng thực tế của Hà Nội nhé, các bạn nên mong thông cảm. Bức tranh tôi dùng với mục đích minh họa trực quan cho bài viết được chia sẻ dưới đây.

 Trong ngôn ngữ kiến trúc thành quách cổ, chữ "La" được dùng để chỉ vòng thành ngoài cùng, có nhiệm vụ bao bọc và bảo vệ cho toàn bộ lõi nội đô bên trong. Đại La (大羅) mang nghĩa là cái lưới bao bọc lớn nhất.

Thành Đại La (do Cao Biền đắp vào thế kỷ IX) mang hàm ý là một tòa thành có quy mô rộng lớn, bủa vây và bảo vệ toàn bộ trung tâm bờ cõi Giao Châu thời bấy giờ.

Sau này, khi Lý Thái Tổ dời đô về, ngài đã dựa trên nền móng của Đại La thành cũ để xây dựng kinh đô Thăng Long. Chữ "La" lúc này không đơn thuần chỉ là một cái tên, mà nó mang trọn vẹn ý niệm về sự bảo vệ vững chãi, sự bao bọc chở che và tầm vóc mênh mông của một trung tâm bờ cõi độc lập.

Kinh thành nằm trên một doi đất cao giữa vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam ra biển Đông. Người ta thường quen với một Nhĩ Hà uốn lượn như vành tai che chở kinh kỳ, hay một Hồng Hà đỏ nặng phù sa. Nhưng lật lại những trang sử từ thời Lý, dòng sông ấy còn có một danh xưng khác đầy kiêu hãnh: Phú Lương Giang – dòng sông của sự trù phú và tốt lành.

Lý Thái Tổ có đủ cái tầm để dệt dòng sông vào tấm lưới La Thành, biến dòng thác đỏ ngầu phù sa thành một bức trường thành bằng nước vĩ đại bao bọc mạn Bắc và mạn Đông. Phía Tây và Nam, sông Tô Lịch và Kim Ngưu đan xen, tạo thành hệ thống hào nước tự nhiên bao quanh thêm một vòng nữa.

Đây chính là thế "tam trùng thủy" (ba lớp nước bao bọc), vị trí phòng thủ tự nhiên xuất sắc bậc nhất vùng đồng bằng. Ngày xưa, cha ông ta để sông Tô Lịch tự do đón nước sông Hồng từ phía Bắc (ở cửa Hà Khẩu, gần chợ Đồng Xuân ngày nay), dẫn long mạch đi khắp kinh thành rồi thoát ra phía Nam. Dòng chảy ấy tuần hoàn, sống động và luân chuyển liên tục để tụ khí, tụ tài, đưa nguồn "sinh khí" trong lành nuôi dưỡng nội đô, chứ không phải là một dòng sông tù đọng như bây giờ. Sông Hồng sau khi cuộn chảy qua muôn vàn khúc quanh, đến khi ôm lấy Thăng Long thì đã thải bớt hung khí, chỉ còn lại phù sa và thịnh vượng.

Bản thân người viết vốn không phải là một người hiểu biết về thuật phong thủy kinh điển. Tuy nhiên, khi thu nhận, tổng hợp và đối chiếu từ nhiều nguồn tư liệu cổ được lưu truyền, người viết không khỏi ngỡ ngàng trước tư duy quy hoạch không gian đỉnh cao của tiền nhân. Trong một diễn ca cổ thời Giao Châu, vị trí của Đại La đã được định danh là "Thăng Long đệ nhất đại huyệt mạch".*

Khi dịch từ ngôn ngữ biểu tượng phong thủy trong các văn bản xưa sang ngôn ngữ trắc địa và sinh thái hiện đại, chúng ta sẽ thấy một hệ thống địa lý vĩ đại:

Vế Tả Thanh Long (Bên trái/Phía Đông): Là "đại cán long" sông Hồng. Mạch nước khổng lồ này nhận nguồn từ ba con sông lớn thượng nguồn (sông Thao, sông Lô, sông Đà), hội tụ ở Bạch Hạc rồi cuộn chảy về kinh đô như một con rồng chở che và mở lối giao thương.

Vế Hữu Bạch Hổ (Bên phải/Phía Tây): Có núi Tản Viên (Ba Vì) hùng vĩ trấn tại phương Kiền (Tây Bắc), cùng hệ thống núi đồi trùng điệp phía Tây làm điểm tựa, tạo thành thế vững chãi quay chầu về kinh đô, như bức bình phong vĩ đại ngăn gió độc. (Dãy Tam Đảo uy nghiêm ở phương Cấn - Đông Bắc đóng vai trò hác trợ, làm bệ đỡ cho sinh khí tụ hội).

Đại La nằm ở vùng đất "nhược" (mềm mại, bằng phẳng), nơi khí dương phủ xuống (dương lai), khí âm ngẩng lên đón (âm phụ). Địa huyệt kết lại ở nơi cao nhất, sáng sủa nhất, chính là Núi Nùng đóng ở chính cung (trung tâm Hoàng Thành). Mọi núi non đều củng hướng, vạn dòng nước đều triều tông về tọa độ này.

Khi Lý Công Uẩn chọn Đại La, ông đang xác nhận một thực tế chiến lược mà chính kẻ xâm lược *** cũng không thể phủ nhận. Nhưng khác với một Cao Biền xây thành để "trấn yểm", đô hộ và cai trị; Lý Công Uẩn dời đô để khơi thông long mạch, hòa hợp với thiên nhiên và giải phóng nội lực của một dân tộc độc lập. Ngài ứng xử với dòng sông bằng cái tâm của một người con hướng về sông Mẹ (sông Cái).

Tiền nhân nghìn năm qua dù thịnh hay suy đều nghiêm cẩn giữ gìn, không ai dám làm tổn hại long mạch Thăng Long, không dám làm ô uế hay nghẽn tắc những dòng sông vốn là mạch máu chuyển vận khí từ thượng nguồn về. Giữ cho mạch nước thông suốt, giữ cho lòng dân thuận hòa, thì thắng địa Thăng Long - Hà Nội mới có thể muôn đời hưng vượng.

***

*Ghi chú

Bài này tôi dựa vào các văn bản, tài liệu đã được Việt hóa, online đăng công khai trên các diễn đàn về Lịch sử - Văn hóa như: Đại Việt sử ký toàn thư (của Ngô Sĩ Liên), Dư địa chí (của Nguyễn Trãi) và Việt giám thông khảo tổng luận (của Lê Tung). Cùng các ghi chép rải rác của các học giả khác.