Đây là bức họa do trí tuệ nhân tạo
(Gemini) tạo ra dựa trên cảm hứng về kinh thành Thăng Long thời Hậu Lê. Dù mang
lại hiệu ứng thị giác lập thể rất đẹp và gợi lên không khí cổ kính, nhưng bức họa này chỉ mang tính chất ước lệ, nghệ thuật, có nhiều điểm sai lệch so với địa lý và
phương hướng thực tế của Hà Nội nhé, các bạn nên mong thông cảm. Bức tranh tôi dùng
với mục đích minh họa trực quan cho bài viết được chia sẻ dưới đây.
Trong
ngôn ngữ kiến trúc thành quách cổ, chữ "La" 羅 được dùng để chỉ vòng thành ngoài
cùng, có nhiệm vụ bao bọc và bảo vệ cho toàn bộ lõi nội đô bên trong. Đại La (大羅) mang nghĩa là cái lưới bao bọc lớn nhất.
Thành Đại La (do Cao Biền đắp vào thế kỷ IX) mang hàm ý là một tòa thành có quy
mô rộng lớn, bủa vây và bảo vệ toàn bộ trung tâm bờ cõi Giao Châu thời bấy giờ.
Sau này, khi Lý Thái Tổ dời đô về, ngài
đã dựa trên nền móng của Đại La thành cũ để xây dựng kinh đô Thăng Long. Chữ
"La" lúc này không đơn thuần chỉ là một cái tên, mà nó mang trọn vẹn
ý niệm về sự bảo vệ vững chãi, sự bao bọc chở che và tầm vóc mênh mông của một
trung tâm bờ cõi độc lập.
Kinh thành nằm trên một doi đất cao giữa
vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam ra biển Đông.
Người ta thường quen với một Nhĩ Hà uốn lượn như vành tai che chở kinh kỳ, hay
một Hồng Hà đỏ nặng phù sa. Nhưng lật lại những trang sử từ thời Lý, dòng sông ấy
còn có một danh xưng khác đầy kiêu hãnh: Phú Lương Giang – dòng sông của sự trù
phú và tốt lành.
Lý Thái Tổ có đủ cái tầm để dệt dòng
sông vào tấm lưới La Thành, biến dòng thác đỏ ngầu phù sa thành một bức trường
thành bằng nước vĩ đại bao bọc mạn Bắc và mạn Đông. Phía Tây và Nam, sông Tô Lịch
và Kim Ngưu đan xen, tạo thành hệ thống hào nước tự nhiên bao quanh thêm một
vòng nữa.
Đây chính là thế "tam trùng thủy"
(ba lớp nước bao bọc), vị trí phòng
thủ tự nhiên xuất sắc bậc nhất vùng đồng bằng. Ngày xưa, cha ông ta để sông Tô
Lịch tự do đón nước sông Hồng từ phía Bắc (ở
cửa Hà Khẩu, gần chợ Đồng Xuân ngày nay), dẫn long mạch đi khắp kinh thành
rồi thoát ra phía Nam. Dòng chảy ấy tuần hoàn, sống động và luân chuyển liên tục
để tụ khí, tụ tài, đưa nguồn "sinh khí" trong lành nuôi dưỡng nội đô,
chứ không phải là một dòng sông tù đọng như bây giờ. Sông Hồng sau khi cuộn chảy
qua muôn vàn khúc quanh, đến khi ôm lấy Thăng Long thì đã thải bớt hung khí, chỉ
còn lại phù sa và thịnh vượng.
Bản thân người viết vốn không phải là một
người hiểu biết về thuật phong thủy kinh điển. Tuy nhiên, khi thu nhận, tổng hợp
và đối chiếu từ nhiều nguồn tư liệu cổ được lưu truyền, người viết không khỏi
ngỡ ngàng trước tư duy quy hoạch không gian đỉnh cao của tiền nhân. Trong một
diễn ca cổ thời Giao Châu, vị trí của Đại La đã được định danh là "Thăng Long đệ nhất đại huyệt mạch".*
Khi dịch từ ngôn ngữ biểu tượng phong
thủy trong các văn bản xưa sang ngôn ngữ trắc địa và sinh thái hiện đại, chúng
ta sẽ thấy một hệ thống địa lý vĩ đại:
Vế Tả Thanh Long
(Bên trái/Phía Đông): Là "đại
cán long" sông Hồng. Mạch nước khổng lồ này nhận nguồn từ ba con sông lớn
thượng nguồn (sông Thao, sông Lô, sông Đà),
hội tụ ở Bạch Hạc rồi cuộn chảy về kinh đô như một con rồng chở che và mở lối
giao thương.
Vế Hữu Bạch Hổ
(Bên phải/Phía Tây): Có núi Tản Viên
(Ba Vì) hùng vĩ trấn tại phương Kiền (Tây Bắc), cùng hệ thống núi đồi trùng điệp
phía Tây làm điểm tựa, tạo thành thế vững chãi quay chầu về kinh đô, như bức
bình phong vĩ đại ngăn gió độc. (Dãy Tam
Đảo uy nghiêm ở phương Cấn - Đông Bắc đóng vai trò hác trợ, làm bệ đỡ cho sinh
khí tụ hội).
Đại La nằm ở vùng đất "nhược"
(mềm mại, bằng phẳng), nơi khí dương phủ xuống (dương lai), khí âm ngẩng lên
đón (âm phụ). Địa huyệt kết lại ở nơi cao nhất, sáng sủa nhất, chính là Núi
Nùng đóng ở chính cung (trung tâm Hoàng
Thành). Mọi núi non đều củng hướng, vạn dòng nước đều triều tông về tọa độ
này.
Khi Lý Công Uẩn chọn Đại La, ông đang
xác nhận một thực tế chiến lược mà chính kẻ xâm lược *** cũng không thể
phủ nhận. Nhưng khác với một Cao Biền xây thành để "trấn yểm", đô hộ
và cai trị; Lý Công Uẩn dời đô để khơi thông long mạch, hòa hợp với thiên nhiên
và giải phóng nội lực của một dân tộc độc lập. Ngài ứng xử với dòng sông bằng
cái tâm của một người con hướng về sông Mẹ (sông
Cái).
Tiền
nhân nghìn năm qua dù thịnh hay suy đều nghiêm cẩn giữ gìn, không ai dám làm tổn
hại long mạch Thăng Long, không dám làm ô uế hay nghẽn tắc những dòng sông vốn là mạch máu chuyển vận khí từ thượng nguồn về. Giữ cho mạch nước thông suốt,
giữ cho lòng dân thuận hòa, thì thắng địa Thăng Long - Hà Nội mới có thể muôn đời
hưng vượng.
***
*Ghi chú:
Bài này tôi dựa vào các văn bản, tài liệu đã được
Việt hóa, online đăng công khai trên các diễn đàn về Lịch sử - Văn hóa như: Đại
Việt sử ký toàn thư (của Ngô Sĩ Liên), Dư địa chí (của Nguyễn
Trãi) và Việt giám thông khảo tổng luận (của Lê Tung). Cùng các
ghi chép rải rác của các học giả khác.