04/11/2026

Từ "Kẻ Chợ" đến những miền quê xưa

Bài viết có sự biên tập của AI

 

Ảnh sưu tầm trên net

 

Từ lâu, tôi vẫn chú ý đến chữ "Kẻ" trong những tên gọi quen thuộc của vùng đất Thăng Long – Hà Nội xưa. Một tiếng gọi tưởng như bình dị, đôi khi chỉ còn thấp thoáng trong ký ức người cũ, nhưng lại gợi ra nhiều điều về lịch sử và đời sống văn hóa của người Việt ta.

Cũng may, thời đại internet, đặc biệt là sự hỗ trợ của AI, đã giúp việc tìm kiếm, tra cứu và tiếp cận những nguồn tư liệu xưa trở nên thuận tiện hơn. Từ một mối quan tâm ban đầu, tôi có dịp lần theo những tên làng, những trang thư tịch và cả những ghi chép của người phương Tây về Đàng Ngoài, để hiểu thêm về một tiếng gọi đã từng gắn bó với bao thế hệ người Việt.

Nhắc đến chữ "Kẻ", nhiều người thường nghĩ ngay đến "Kẻ Chợ" – tên gọi dân gian của Thăng Long xưa. Đó là cách gọi một chốn đô hội đông vui, nơi người từ khắp các miền quê mang sản vật, hàng hóa đến buôn bán, giao lưu. Nhưng Kẻ Chợ không phải là một trường hợp riêng biệt. Trong không gian văn hóa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, chữ Kẻ từng xuất hiện trong rất nhiều tên làng, tên vùng cư trú.

Kẻ Vẽ, Kẻ Bưởi, Kẻ Vòng, Kẻ Láng, Kẻ Mơ... Những cái tên nghe mộc mạc, gần gũi ấy dường như mang theo cả hơi thở của một thời làng xã, khi mỗi vùng quê có một tên gọi riêng, gắn với cộng đồng cư dân và những sinh hoạt thường ngày.

Về nguồn gốc chữ "Kẻ", đến nay vẫn còn những cách lý giải khác nhau. Một số nhà nghiên cứu xem đây là thành tố địa danh cổ, có liên hệ với lớp ngôn ngữ Việt – Mường, thường được dùng để chỉ nơi cư trú hoặc cộng đồng dân cư. Cũng có những giả thuyết khác được đưa ra từ việc đối chiếu thư tịch cổ, âm đọc và các địa danh còn lưu lại.

Điều đáng chú ý là chữ Kẻ không chỉ tồn tại trong lời ăn tiếng nói dân gian. Nó còn được tìm thấy trong một số văn bản, tư liệu cổ và ghi chép của người nước ngoài khi đến Đàng Ngoài. Những nguồn tư liệu ấy, dù cần được khảo cứu và đối chiếu cẩn trọng (của các chuyên gia, nhà nghiên cứu), cũng cho thấy đây không đơn thuần là một cách gọi mới xuất hiện trong ký ức của các thế hệ gần đây.

Ở vùng Thăng Long xưa, dấu tích của những tên gọi ấy vẫn còn gợi nhiều liên tưởng.

Kẻ Vẽ gắn với làng Đông Ngạc, một vùng quê nổi tiếng về truyền thống học hành, khoa bảng. Kẻ Bưởi gợi nhớ một vùng đất rộng lớn ven Hồ Tây, nơi có những làng nghề làm giấy truyền thống. Kẻ Vòng gắn với thức quà cốm nổi tiếng mỗi độ thu về. Kẻ Láng gợi đến những luống rau xanh, những mùi thơm dân dã đã đi vào đời sống Hà Nội. Còn Kẻ Mơ gợi nhớ một vùng làng cổ phía nam kinh thành, với những nghề nghiệp và sinh hoạt riêng của cư dân ven đô.

Không phải mọi tên Kẻ đều tương ứng với một địa danh hành chính ngày nay. Có tên gọi chỉ một làng, có tên lại bao trùm cả một vùng gồm nhiều làng nhỏ. Qua thời gian, ranh giới và tên gọi cũng thay đổi, khiến việc tìm lại địa danh xưa đôi khi không đơn giản.

Rời Thăng Long, đi về phía Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, ta lại bắt gặp những địa danh mang thành tố Kẻ. Những tên gọi như Kẻ Rú, Kẻ Đọng, Kẻ Vạn, Kẻ Trào... gợi ra một không gian cư trú rộng lớn hơn, nơi mỗi vùng đất có lịch sử hình thành và cách gọi tên riêng. Sự phân bố ấy cho thấy chữ Kẻ không chỉ gắn với một kinh đô hay một khu vực địa lý nhất định, mà thuộc về một lớp địa danh dân gian đã từng hiện diện ở nhiều miền quê.

Có lẽ điều đáng suy ngẫm nhất không nằm ở việc chữ Kẻ bắt nguồn chính xác từ đâu, hay tên gọi nào đã xuất hiện trước, mà ở chỗ những tiếng gọi bình dị ấy đã lưu giữ được một phần ký ức của cộng đồng.

Ngày trước, người ta gọi tên làng bằng tiếng nói của mình, bằng những gì gần gũi với cuộc sống. Đó có thể là tên đất, tên vùng, tên một cộng đồng cư dân hay một cách gọi đã quen thuộc qua nhiều đời. Về sau, khi hệ thống hành chính và văn tự phát triển, nhiều tên Nôm được sử dụng song song hoặc thay thế bằng những tên chữ Hán – Việt. Nhưng trong lời ăn tiếng nói, những tên gọi cũ vẫn có sức sống riêng, đôi khi tồn tại lâu hơn cả những tên gọi chính thức.

Ngày nay, nhiều làng cổ đã hòa vào phố thị. Những lũy tre, con đường đất, bến nước hay những phiên chợ quê dần nhường chỗ cho nhà cửa và phố xá. Tên làng cũng thay đổi theo những lần điều chỉnh địa giới hành chính. Có những tiếng gọi tưởng đã mất đi, nhưng vẫn còn được nhắc lại trong câu chuyện của người cao tuổi, trong tên một món ăn, một nghề thủ công hay một câu ca dao cũ.

Tìm hiểu chữ Kẻ, vì thế, không chỉ là tìm hiểu một thành tố trong địa danh. Đó còn là dịp nhìn lại cách cha ông gọi tên nơi mình sinh sống, cách những cộng đồng làng xã hình thành và lưu giữ bản sắc qua bao biến thiên lịch sử.

Kẻ Chợ của Thăng Long hôm nay có thể chỉ còn là một tên gọi gợi nhớ. Những Kẻ Vẽ, Kẻ Bưởi, Kẻ Vòng, Kẻ Láng, Kẻ Mơ cũng đã mang dáng dấp khác xưa. Nhưng đằng sau mỗi tiếng gọi vẫn là một miền ký ức, một phần đời sống đã góp vào diện mạo văn hóa của đất nước.

Có những điều trong quá khứ không còn hiện diện bằng hình hài cụ thể, nhưng vẫn âm thầm ở lại trong tiếng nói của con người. Chữ Kẻ có lẽ là một trong những dấu tích như thế.

***

Chú thích:
(1) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hóa (Huế) tái bản năm 1994, tr.31.
(2) Audré Massan: Hà Nội giai đoạn 1873-1888, Nxb. Hà Nội 2009.
(3) Nghiên cứu từ Kẻ của Trần Kinh Hòa 1950.
(4) GS. Trần Quốc Vượng: Văn Hóa Việt Nam - Những Hướng Tiếp Cận Liên Ngành (NXB Văn học, 2015) 
Tài liệu tham khảo:
1. Hà Nội giai đoạn 1873-1888, Audré Massan, Nxb. Hà Nội 2009.
2. Thiên Nam ngữ lục, Nguyễn Thị Lâm phiên âm, chú giải, Nxb. KHXH, 2001. (có bản Nôm đối chiếu).
3. Truyện các thánh, bản chữ Nôm của Maorica, Bản chụp cá nhân sưu tầm.
4. Từ điển chữ Nôm, Nguyễn Quang Hồng chủ biên, Nxb. Giáo dục, HN 2006.
5. Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) Alexandre de Rhodes xuất bản tại Roma năm 1651 (Nxb. KHXH in lại, có chú giải, HN 1991).
6. Từ điển từ Việt cổ, Vương Lộc, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, 2002.
.... 

01/11/2026

Từ một đề thi cũ nghĩ chuyện học ngày xưa



 

Tình cờ gặp đề thi này trên net, thấy có nhiều điều thú vị và hay ho. Mình nhớ đến những đề thi Đình thời Nguyễn mà mình từng có dịp tham khảo, rồi có vài suy nghĩ.

Đề thi Tú tài II thời VNCH, môn Triết học, có hai phần: mười câu hỏi ngắn và một bài luận, thí sinh chọn một trong ba đề để làm. Thời gian làm bài là ba giờ.

Đọc qua, mình chú ý nhất đến phần luận. Chỉ ba đề, mỗi đề vài chữ hoặc một câu hỏi, nhưng muốn viết cho ra ngô ra khoai thì chắc chắn không thể chỉ học thuộc lòng sách vở.

Điều mình thấy thú vị là người ra đề không đưa sẵn một nhận định để học sinh giải thích, cũng không yêu cầu kể lại những điều đã học. Câu hỏi được đặt ra để người làm bài tự tìm đường đi, tự lập luận và bảo vệ cách hiểu của mình.

Dĩ nhiên, chỉ nhìn vào một đề thi thì chưa thể đánh giá toàn diện chương trình học hay chất lượng của cả một nền giáo dục. Nhưng riêng những câu hỏi này cũng đủ khiến người đọc dừng lại suy nghĩ.

Từ đề thi Tú tài II, mình nhớ đến thi Đình thời Nguyễn.

Hai kỳ thi thuộc hai thời đại rất khác nhau. Một bên là nền giáo dục Nho học, với kinh điển và thể văn sách; một bên là chương trình giáo dục hiện đại, trong đó có môn Triết học với những vấn đề về nhận thức, đạo đức và khoa học.

Thi Đình là kỳ thi cuối cùng trong hệ thống thi Tiến sĩ thời Nguyễn. Qua những bài văn sách, sĩ tử phải vận dụng kiến thức đã học để bàn luận những vấn đề được đặt ra, thể hiện cách nhìn nhận và năng lực lập luận của mình.

Còn ở đề thi Tú tài II đang nói đến, những câu hỏi triết học cũng đòi hỏi người học phải vượt khỏi việc ghi nhớ kiến thức, tự mình phân tích và đưa ra lời giải.

Không thể xem hai kỳ thi là tương đương, bởi mục đích, nội dung và vị trí của chúng trong hệ thống giáo dục là hoàn toàn khác nhau. Nhưng khi đặt những đề thi ấy cạnh nhau, mình vẫn nhận ra một điểm đáng chú ý: người học không chỉ cần biết những gì đã được dạy, mà còn phải biết sử dụng những điều ấy để suy nghĩ về một vấn đề cụ thể.

Có lẽ đây cũng là một trong những điều đáng quan tâm khi nhìn lại chuyện học và thi cử ngày xưa.

Một kỳ thi có thể kiểm tra trí nhớ, kiến thức, khả năng diễn đạt; nhưng với những câu hỏi mở, người làm bài còn phải biết suy xét, tìm mối liên hệ giữa các vấn đề và tự hình thành lập luận. Những điều ấy không phải lúc nào cũng có thể học thuộc lòng mà có được.

Tất nhiên, đề thi chỉ là một phần của câu chuyện giáo dục. Cách dạy, cách học, điều kiện học tập và nhiều yếu tố khác cũng góp phần tạo nên kết quả. Do vậy, mình không nghĩ có thể chỉ dựa vào một vài đề thi để kết luận nền giáo dục của thời đại nào tốt hơn thời đại nào.

Nhưng những tư liệu cũ vẫn có cái hay riêng. Đọc chúng, ta biết thêm người xưa đã học gì, phải trả lời những câu hỏi nào và từng được yêu cầu thể hiện năng lực của mình ra sao.

Một đề thi từ mấy chục năm trước, những bài văn sách từ hàng trăm năm trước, xét cho cùng, đều là những dấu vết của một thời. Có điều, đôi khi đọc lại, ta vẫn bắt gặp những câu hỏi chưa hề cũ.

Bởi chuyện học không chỉ là tích lũy kiến thức để vượt qua một kỳ thi. Điều quan trọng hơn có lẽ là sau những gì đã học, mỗi người có thể tự suy nghĩ, biết xem xét vấn đề từ nhiều phía và hình thành nhận định của riêng mình.

Chỉ vậy thôi, cũng thấy thú vị.