Dựa vào tài liệu từ nhiều nguồn trên net.
Cổng chùa Sét (Giáp Lục) khoảng năm 1950.
Bức ảnh do nhiếp ảnh gia Võ An Ninh chụp, ghi lại cổng chùa với kiến trúc Ngũ Môn Quan năm cửa đồ sộ trước khi công trình bị bom chiến tranh phá hủy. Đây là một trong những hình ảnh tư liệu quý hiếm còn lưu giữ diện mạo của vùng Sét xưa.
Người Hà Nội xưa từng
có câu “dưa La, cà Láng, nem Báng, tương
Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”. Bây giờ, những món đó gần như chỉ
còn là kí ức hay na ná mà thôi.
Âu cũng vì vậy mà mình đăng bài này, kẻo chả mấy nữa ai còn nhớ tới những vùng đất xưa nơi Kinh kỳ như làng Sét của Thăng Long xưa - Hà
Nội nay.
Làng Sét, tên
chữ là Thịnh Liệt, là một trong những vùng cư dân cổ nhất ở
phía nam kinh thành Thăng Long. Cộng đồng cư dân nơi đây được hình thành từ rất
sớm, có lẽ trước cả thế kỷ XI.
Cùng với
những làng cổ bao quanh kinh thành Thăng Long như Kẻ Mơ, Kẻ Bưởi, Kẻ Noi, Kẻ
Mọc..., Thịnh Liệt cũng mang tên Nôm là Kẻ Sét.
Tên gọi cổ
nhất còn ghi nhận được của làng vào khoảng thế kỷ XV là Cổ Liệt.
Thuở ban đầu, Thịnh Liệt gồm chín giáp, từ Giáp Nhất đến Giáp Cửu. Về sau, do
bất đồng trong việc tổ chức đình đám, Giáp Cửu tách ra thành một xã riêng,
chính là làng Phương Liệt (làng Vọng, mình mạo muội cho là do tách ra, nên khi Hội, bái vọng mà thành chăng?). Thịnh Liệt còn lại tám giáp, rồi dần dần phát
triển thành tám làng riêng biệt.
Mỗi giáp (sau này là mỗi làng) đều có một dòng họ
lớn, đông đinh giữ vai trò chủ đạo. Vì vậy, tên họ cũng trở thành tên gọi quen
thuộc của từng giáp: Giáp Nhất gọi là Bùi
Tây; Giáp Nhị là Bùi Đông; Giáp Tam là Đỗ Trung; Giáp Tứ là Đỗ Nội; Giáp Ngũ là
Đỗ Ngoại; Giáp Lục là làng Sét; Giáp Thất là Lê Thôn...
Đầu thế kỷ
XX, chỉ còn Giáp Nhất, Giáp Nhị, Giáp Tứ, Giáp Lục và Giáp Bát, do Giáp Tam và
Giáp Ngũ nhập vào Giáp Nhị, còn Giáp Thất nhập vào Giáp Bát. Năm thôn này được
nâng lên thành năm xã độc lập. Cùng với xã Tương Mai, chúng hợp thành tổng
Thịnh Liệt, còn gọi là tổng Sét, thuộc huyện Thanh Trì.
Nhờ hệ thống
sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ và sông Kim Ngưu bao quanh, giao thông đường
thủy của vùng Sét xưa rất thuận lợi. Khi ấy, sông Sét còn thông với sông Tô
Lịch nên thuyền bè có thể qua lại trao đổi hàng hóa. Dưới thời Lê - Trịnh,
thuyền rồng của vua chúa theo dòng nước từ Hồ Tây cũng có thể về tới Thịnh
Liệt. Sông Sét lại thông với sông Lừ, đưa hàng hóa từ vùng chợ Đại - Cống Thần
thuộc Sơn Nam Hạ đến chợ Dừa ngoài cửa ô Thịnh Quang; đồng thời nối với sông
Kim Ngưu chảy về phía đông, qua xóm Bến làng Hoàng Mai rồi ra sông Hồng, tạo
nên hệ thống ao hồ, đầm nước phong phú.
Sử cũ nhiều
lần nhắc tới đầm Thịnh Liệt (còn gọi là
đầm Đại) trong những năm cạn nước. Điều đó cho thấy đầm Đại giữ vị trí quan
trọng đối với sản xuất nông nghiệp của cả vùng, đồng thời còn mang ý nghĩa tâm
linh không chỉ với cư dân địa phương mà cả với triều đình.
Vùng Sét, đặc
biệt khu vực Giáp Nhất, nằm trên tuyến Thiên lý hay Đường Cái Quan (nay là Quốc lộ 1), trục giao thông Bắc -
Nam quan trọng nhất trong nhiều thế kỷ.
Thuở đầu,
làng Sét có một ngôi đình chung đặt tại Giáp Bát, thờ Thành hoàng là thần Tam
Lang, cùng một ngôi chùa chung ở Giáp Lục. Khi các giáp tách thành những làng
riêng, mỗi làng đều dựng đình riêng, vẫn thờ thần Tam Lang và phối thờ thêm các
vị thần của làng mình. Chẳng hạn, Giáp Lục đưa Nguyễn Chính - vị tổ nghề - vào
phối thờ và tôn làm Thành hoàng; Giáp Nhị thờ Lão Tử; Giáp Tứ thờ Ngũ vị thần
cùng Tam Lang; Giáp Nhất thờ Ngũ vị thần và Hắc Y tướng quân; Giáp Thất thờ Ngũ
vị thần. Riêng Giáp Bát có khoảng hai phần ba dân theo Công giáo, có nhà thờ
riêng, còn một phần ba vẫn theo tín ngưỡng thờ thần, thờ Phật.
Hằng năm, từ
ngày 13 đến ngày 16 tháng Hai âm lịch, các làng trong vùng Thịnh Liệt cùng mở
hội. Các đoàn rước tập trung về chùa Sét, dân gian quen gọi là chùa Bà Chúa, để
tưởng nhớ công lao tu bổ chùa của hai bà chúa họ Lê và họ Đặng.
Trước kia,
khi Thịnh Liệt còn đủ chín giáp, lễ hội "rước chạ" được tổ chức rất
quy củ. Tất cả đều tập trung tại Nghè bên Giáp Ngũ và mỗi giáp đảm nhận một
phần việc riêng. Giáp Nhất làm trưởng, có quyền đánh trống mở cửa đình và điều
hành nghi lễ; Giáp Cửu chuẩn bị kiệu; Giáp Bát lo cờ quạt, khiêng trống; các
giáp còn lại phụ trách các phần việc tế lễ theo lệ đã định.
Mỗi làng
trong vùng đều mang một nét đặc sắc riêng. Giáp Nhị nổi tiếng về truyền thống
khoa bảng; Giáp Lục - tức làng Sét - phát triển nghề dát bạc quỳ, gắn với chợ
Sét và chùa Sét; còn Giáp Nhất là nơi buôn bán sầm uất trên tuyến đường Thiên
lý.
Không chỉ giàu truyền thống thương
mại, làng Sét còn là vùng đất hiếu học, quê hương của nhiều danh nhân như Bùi
Xương Trạch, Bùi Vịnh, Bùi Bỉnh Quân, Nguyễn Xân và Nguyễn Chính...
Ngày nay, nhiều
dấu tích của làng Sét xưa đã đổi khác. Nhưng chỉ
cần lần theo tên đất, tên làng, những ngôi đình, ngôi chùa hay những câu chuyện
còn lưu truyền trong dân gian, vẫn có thể hình dung nơi đây từng là một vùng
quê trù phú ở cửa ngõ phía Nam kinh thành Thăng Long. Một mảnh đất không chỉ
lưu giữ ký ức của riêng mình, mà còn góp thêm một phần vào lịch sử hình thành
và phát triển của Thăng Long - Hà Nội.