28/04/2026

3 Y 1 Bát

 Vũ Thế Thành

 

Không có mô tả ảnh. 

Một nhà sư Myanma dừng chân khi đi khất thực

 

Pháp tắc của người tu hành Phật giáo là phải đeo dính Y - Bát bên mình, như loài chim không thể rời lông cánh” (Luật Ma-ha-tăng-kỳ, quyển 8, bài 2).  Nên, “Ba y một bát” là thành ngữ tả Tăng - Ni. Nói tuy gọn vậy, nhưng bên trong có nhiều lắt léo. Tỷ như tiếng là Y nhưng không phải áo, kêu bằng Bát nhưng khác cái tô, cái bát.

Ba Y

Y đây là tấm vải hình chữ nhật, chạy viền bốn cạnh đơn sơ. Do ảnh hưởng trang phục Ấn, Tăng - Ni toàn quấn y, chứ không mặc áo quần như người thường.

Các môn đệ đời đầu của Đức Đức Thích-ca phải mót ba mớ vải vụn, vải dơ người ta bỏ đi rồi khâu lại dùng (Phẩn tảo y), miễn đủ che thân là được. Và vì xứ Ấn nóng nực nên chỉ cần quấn một tấm, tức chỉ Nhất y.

Lần hồi mối đạo phát triển, đàn-na (tựa như fan thời nay vậy) tín thí bắt đầu dâng vải cúng dường. Nhà giàu cúng nguyên khúc vải, nghèo thì hùn cúng mỗi người vài tấc. Nhưng đức Đức Đức Thích-ca không muốn môn đồ mình quấn nguyên tấm vải liền lạc.

Theo Tứ phần luật, bữa nọ tăng đoàn đi ngang cánh đồng, Đức Đức Thích-ca thấy mấy thửa ruộng đều đặn nhìn đã mắt, mới bảo A-nan chế y theo kiểu đó. Tôn giả A-nan cũng rảnh, đem cắt nguyên tấm vải lớn thành nhiều miếng nhỏ hình chữ nhật, theo cỡ dài ngắn đều nhau, rồi may ráp trở lại thành tấm y lớn.

Từ đó có quy định tỳ-kheo chỉ quấn y từ vải cắt nhỏ (Thiện kiến luật, Quyển 7). Đời sau kêu đây là “Phước điền y”, với ý nghĩa đây là thửa ruộng do đàn-na thí chủ gieo trồng phúc đức. Thật  ra hồi xưa, tấm vải nguyên là tài sản đáng giá, nên phải cắt nhỏ ra để khỏi bị bọn cướp lột mất.

Tới nay, trang phục tăng ni tùy thời thế, thung thổ, hệ phái mà đẻ thêm nhiều kiểu, nhưng tấm y choàng (Tăng-già-lê) đều kêu Cà-sa, có vị thế đặc biệt và được giới luật quy định chi tiết, rõ ràng.

Đêm đông nọ trời lạnh. Đức Đức Thích-ca lúc đầu chỉ quấn một y. Nửa đêm thấy hơi lạnh, mới quấn thêm cái nữa. Rạng sáng càng lạnh, phải quấn cái thứ ba. Do đó ông đặt ra ba y cho các tỳ-kheo.

Theo luật Ma-ha-tăng-kỳ (Quyển 8, Bài 1), ba y gồm:

– An-đà-hội (antarvāsa): Quấn khúc dưới, che từ rốn tới đầu gối; tạm kêu y dưới. Quấn khi ngủ hoặc lúc làm lụng.

– Uất-đa-la-tăng (uttarāsavga): Che thân trên, từ vai xuống quá gối; tạm kêu y trên. Quấn thêm khi hội họp hoặc vào chỗ công cộng.

– Tăng-già-lê (aṁghāti): Tấm y to nhất, phủ cả thân từ vai xuống quá bắp chân, còn kêu Đại y; đây tạm kêu y ngoài. Để quấn trong nghi lễ trang trọng.

Đắp thêm y cốt để chống lạnh, nên Đức Đức Thích-ca dặn: y dưới (An-đà-hội) với y trên (Uất-đa-la-tăng) chỉ cần một lớp, riêng y ngoài (Tăng-già-lê) được may hai lớp. Như ai già yếu bệnh hoạn chịu lạnh không nổi, có thể đắp thêm mấy y cũ.

Về sau, các bậc học nhiều hiểu rộng lại cài thêm ý nghĩa, cho là ba y tượng trưng “tam nghiệp thanh tịnh”: Ngũ điều y tiêu trừ Tham thân nghiệp, thất điều y cắt đứt Sân khẩu nghiệp, đại y dứt bỏ Si tâm nghiệp. Làm vậy chẳng qua để nhấn mạnh: Ba y là vật trọng, tỳ-kheo không được rời thân.

Theo Căn bản Thuyết-nhất-thiết Hữu-bộ Tỳ-nại-da (Quyển 17), Đức Đức Thích-ca chỉ quy định khổ vải cho y trên theo chiều đứng là ba cùi chỏ (dang ngang cùi chỏ ra theo động tác quấn y, tính là một chỏ; cỡ tám tấc), rộng năm chỏ; y dưới chiều đứng hai chỏ rưỡi, rộng bốn chỏ rưỡi. Tức là hồi đầu, mạnh ai nấy tùy cỡ người mà may y, miễn vừa vặn là được.

Chừng có Phước điền y, mới đặt ra lệ ráp mớ vải cắt nhỏ kia thành nẹp, theo chiều dọc. Cứ nẹp nầy miếng ngắn trên miếng dài dưới, thì nẹp kế ráp so le miếng ngắn dưới miếng dài trên. Số nẹp luôn là số lẻ, để hai nẹp ngoài cùng cân đối cho vừa mắt.

Hồi đó Đức Đức Thích-ca quấn hoài một Tăng-già-lê, tấm y trắng lâu ngày ố màu rồi sạm đi. Nên y Tăng-già-lê còn kêu Cà-sa, là phiên âm từ Phạn ngữ “Kaṣāya”, nghĩa là sạm màu (Hoại sắc); ý nói manh áo cũ mặc lâu ngày. Cà-sa bởi vậy luôn có màu tối.

Theo Bách nhất Yết-ma (Quyển 9), cà-sa có ba màu căn bản: “Cà-sa phải nhuộm cho hoại sắc, thành ra xanh đen (màu rỉ đồng), hoặc thâm (màu bùn), hay vàng nghệ (màu đất nung)”.

Tùy nguyên liệu nhuộm mà màu y mỗi xứ có khác nhau. Ở Ấn Độ, tăng sĩ mặc y vàng nghệ hoặc nâu đỏ. Bên Tàu thời xưa thì cà-sa đỏ, sau nầy thêm màu đen, xanh và vàng đậm. Màu y của thầy chùa Việt thì tùy, Bắc tông khoác cà-sa vàng, Nam tông quấn y theo truyền thống, thường nâu đỏ, đỏ đậm hay vàng đậm.

Tóm lại, Tam y là nói chung bộ đồng phục dành cho hàng Tỳ-kheo đã thọ đủ giới luật (Cụ túc giới), được ấn chứng đàng hoàng. Còn hàng Sa-di chỉ được quấn Mạn y (Paṭṭa) là loại y trơn, vải liền, tuy tương tự nhưng không có nẹp. Nó tựa như áo măng-tô trong bộ cảnh phục: phải đại tá công an trở lên mới được khoác, cỡ hạ sĩ quan làng nhàng đố dám mặc.

Có điều, mặc láo cảnh phục có thể đi tù; nhưng quấn láo ba y đội lốt tỳ-kheo, thì chưa từng thấy đứa nào ăn bạt tai. Bởi vậy tụi đó đâm lờn, để đời nay chiếc áo lại làm nên thầy tu.

***

Một Bát

Bát đây là cái tô đựng cơm, một trong sáu pháp khí thiết thân của thầy chùa.

Bình bát nếu kêu đầy đủ là Bát-đa-la (pātra – cái bát, cái tô), danh từ mượn của đạo Bà-la-môn. Theo Ma-nô Pháp luận (Chương 6), cuộc đời một Bà-la-môn chia làm bốn giai đoạn, tới giai đoạn cuối là lúc cầu giải thoát, tốt nhât nên vào rừng núi ẩn dật, sống đời đạm bạc, bưng bát xin ăn, chỉ cầu đủ ngày một bữa. Bình bát Bà-la-môn đều bằng sành hoặc gỗ, tuyệt đối không dùng bát kim loại.

Còn bình bát Phật giáo thì theo kinh Đại phẩm, khi Đức Đức Thích-ca thành đạo, có hai anh em lái buôn tới cúng dường bánh bột gạo với mật ong. Đức Phật phân vân vì không thể trực tiếp thọ nhận bằng tay không. Tứ đại Thiên vương liền hiện thân, mỗi vị dâng lên một Bát-đa-la đặng đựng đồ ăn. Đức Thích-ca chồng cả bốn trên lòng bàn tay trái, lấy tay phải ép lại thành một bát đá để thọ thực.

Vì dùng để đựng vật thực do bá tánh bố thí, nên bình bát cũng tượng trưng “Phước điền”.

Có quy định nghiêm ngặt trong việc dùng bát, phải bưng bát đúng điệu bộ nghiêm chỉnh đàng hoàng cho ra oai nghi Tỳ-kheo. Nếu bát hư hoặc lủng, phải đắp vá lại xài tiếp, chừng nào lủng hơn ba lỗ mới thay bát khác.

 Bát của tăng ni luôn có phần bụng phình ra, miệng khum, đáy thu nhỏ.

Luật Tứ phần quy định bình bát phải đủ ba tiêu chuẩn:

a) Thể tương ứng: Thể đây là chất liệu. Bát phải làm bằng thứ rẻ tiền, để khỏi gợi lòng tham. Chỗ này mấy thầy chùa hay làm bộ bí hiểm, nói chỉ Đức Thích-ca mới được xài bát đá. Thiệt ra thiếu cha gì chất liệu bền tốt, gọn nhẹ; đâu ai rảnh bắt chước Giáo chủ, đi xài thứ bát đá dễ nứt bể.

Cụ thể, theo kinh Tiểu phẩm, Đức Thích-ca nói: “Này tỳ-kheo, đừng ham xài bình bát bằng vàng, bạc, ngọc ma-ni, ngọc bích, pha-lê, đồng đỏ, chì, thiếc, đồng thau. Đứa nào làm vậy là phạm tội Đột-cát-la (Dukkata). Này tỳ-kheo, ta chỉ cho dùng bát sắt với bát sành”.

b) Sắc tương ứng: Bát phải một màu tối (đen, nâu, xám), để tỳ-kheo khỏi sinh lòng gắn bó.

Ngoài ra trên thành bát, cả trong lẫn ngoài đều không được vẽ vời, khắc chạm hoa văn hay gắn thêm trang trí, cũng không được ngựa bà, đánh bóng cho láng coóng lên (nếu lỡ nhận được bát có trang trí phải mài bỏ hoa văn, bát sáng bóng phải mài cho bớt sáng).

c) Lượng tương ứng: Lượng là sức chứa (dung tích), chỉ vừa đủ ăn, để tỳ-kheo khỏi ham ăn ham uống.

Tứ phần luật chép có ba cỡ bát: nhỏ, vừa và to. Đại khái từ 0.9~1.8 lít.

Dùng bát lớn nhỏ tùy sức ăn mỗi người, nên Tàu có khi lấy nghĩa, dịch chữ Bát-đa-la thành Ứng lượng khí 應量器

Và Tỳ-kheo phải dùng bữa bằng bát đó, tuyệt không dùng tô bát như người thế tục.

Các Tỳ kheo để bát dưới đất thường khi bị lật, đổ cơm canh ra ngoài. Đức Thích-ca mới bảo: “Tụi bây có thể dùng đồng, sắt, sừng, ngà, ngói, đá, gỗ… làm thành cái đế, để giữ bát cho vững; hoặc lấy rơm cỏ lót đít bát cũng đặng”. Đế này kêu “Bát chi”.

Thêm Bát chi thành ra vướng víu, tụi Tỳ-kheo nhiều khi lọng cọng, làm rớt bể bà nó bát. Đức Thích-ca lại bày may túi vải để đựng cho gọn, kêu “bát nang”. Đây là tiền thân cái tay nãi các thầy chùa ngày nay thường đeo bên mình.

Rồi tới cái nắp. Nắp này không có trong Phật chế, nhưng nay thầy chùa thường dùng, nhất là nhánh Nam truyền. Nắp đậy để tránh cát bụi hoặc ruồi bu kiến đậu, làm dơ cơm canh. Ngoài ra khi khất thực, còn có thể dùng nắp này làm đế.

Tóm lại, bình bát là đồ nghề kiếm ăn của hàng Tỳ-kheo. Bất cứ đứa nào không phải Tỳ-kheo mà ôm bình bát hay thứ gì đó, có hình dạng hoặc công dụng tương tự, đều quân lừa đảo đội lốt thầy chùa.

* * *

Vậy đó, ba y một bát là pháp khí thiêng liêng, Tỳ-kheo phải giữ kỹ cho tới trót đời.

Người ta thường nói thầy chùa là kẻ đã từ bỏ mọi thứ trên thế gian. Ít ai biết họ có thứ cuối cùng không thể xả bỏ, chính là ba y một bát. Nhất là cái cà-sa (tăng-già-lê). Thứ gì cũng bỏ được, kể cả tượng Phật bên mình, nếu cấp thiết cũng có thể bỏ đi, nhưng cà-sa phải giữ tới cùng.

***

Giải thích:

·         Cụ túc giới 具足戒 (Upasampadā): Đã thọ trì trọn đủ Giới luật. Khi thọ Cụ túc là chính thức thành tỳ-kheo. Tỳ-kheo tăng có 250 giới phải giữ, tỳ-kheo ni 348 giới. Trước đó sa-di có thể tùy căn cơ mà rút ra năm bẩy giới làm phương tiện tu tập lần lần. Chừng nào giữ được hết thẩy 250 giới luật đó mới là Cụ túc. Kèm theo nhiều điều kiện: từ 20 tuổi trở lên, thân thể tráng kiện, tinh thần khỏe khoắn, có đủ lục căn (không bị mù, câm, điếc, lé…), không có tiền án, đủ tướng xuất gia (không bị gù, niễng). Thọ giới Cụ túc tức là đã đủ sức xa lánh mọi tội ác trong mọi hoàn cảnh (điều nầy tất nhiên chỉ là lý thuyết, còn thực tế hổng phải ai cũng được vậy). Khi thọ giới Cụ túc, phải có đủ ba thầy truyền giới, bảy vị chứng minh v.v…

·         Tỳ-kheo Lục vật, gồm: tam y (tính là ba món), cộng với bình bát, bồ đoàn, túi lọc nước.

·         Đột-cát-la (Duṣkṛta): Loại tội nhẹ, chỉ cần hối lỗi trước người bị phạm (khi cố ý phạm), hoặc ăn năn tự trách (khi không cố ý phạm) là được.

·         đời nay nhà chùa cũng du di, cho xài bát nhôm và bát inox, vì vừa rẻ vừa bền lại tiện dụng.

·         …Còn nhiều lắm, nhờ các bạn tìm thêm trên net hộ nhé.



 

 

26/04/2026

Dấu xưa Gia Định - Bến Nghé (điển tích và địa danh)

 Dựa trên những ghi chép của ông Tân Việt Điêu, đối chiếu cùng các tư liệu sử học từ phía Pháp (đămg omline công khai và được AI dịch sang tiếng Việt), những tấm bản đồ cổ về Sài Gòn và các nguồn sử liệu mới được cập nhật gần đây; tôi biên tập và hiệu đính lại bài viết này với mong muốn mang đến một cái nhìn hệ thống và thuyết phục hơn.

 Ý thức được rằng lịch sử luôn là một dòng chảy không ngừng và những hiểu biết của bản thân còn hạn chế, tôi mạnh dạn chia sẻ bài viết như một tư liệu tham khảo, rất mong nhận được sự đóng góp và bổ sung từ những tâm hồn đồng điệu.

 

 

Tranh do Gemini tạo

 

Đất Nam Việt mà người ta còn gọi là Nam Kỳ, người Tây Phương khi đặt chân lên xứ mình hồi thế kỷ 16,  17 đã gọi bằng tên Cochinchine hay Đằng Trong.  Còn nhỏ hơn có đất Gia Định (Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư,  Gia Định có nghĩa là "Gia" (mở rộng),  "Định" (định cư),  chỉ vùng đất người dân miền Trung,  miền Bắc vào mở mang,  sinh sống ổn định,  vững vàng),  và ở đất này khi xưa có rất nhiều địa danh.

Người ta cũng gọi xứ này là Đồng Nai (đồng có nhiều nai),  Lộc Dã,  Lộc Đồng (cùng một nghĩa) hoặc Nông Nại,  là nơi mà người Việt mình đặt chân lần đầu tiên năm 1623.  Sử chép rằng Chúa Sãi Vương Nguyễn phúc Nguyên (1613-1635),  đã gả Công chúa Ngọc Vạn,  lệnh ái thứ 2,  cho vua Cao Miên Chei Chetta II (1618-1626) từ Xiêm trở về lên ngôi báu và đóng đô tại Oulong.

Nhờ sự giao hiếu ấy vua Cao Miên mới cho phép người Việt di dân vào Nam Bộ.  Chúng ta đã đặt đầu cầu tại Mô Xoài (gò trồng xoài),  gần Bà Rịa đúng vào năm 1623 (Theo Claude Madrolle -Indochine du Sud, Paris 1926).

Cũng trong năm này một phái đoàn ngoại giao đã được cử sang Oulong để thương thuyết sự nhượng lại Sở Thuế quan Saigon.  Về sau đến đời vua Réam Thip Dei Chan (1642-1659),  em vua trước,  vị hoàng hậu Việt Nam nói trên đã xin vua Cao Miên cho phép người Việt được quyền khai thác xứ Biên Hòa năm 1638.

Sở dĩ vua Cao Miên đã giao hảo với nước ta và tự ý nhân nhượng một phần nào là vì muốn cậy thế lực của triều đình Huế để chế ngự ảnh hưởng của người Xiêm.  Như vậy chúng ta đã đến sinh cơ,  lập nghiệp,  khai khẩn đất đai Nam Bộ là do sự thỏa thuận hoàn toàn của đôi bên, chứ tuyệt nhiên không phải là một sự xâm nhập.  Lại nữa nhờ uy thế của chúng ta mà Cao Miên đã đối phó hiệu quả với những tham vọng của nước Xiêm và bảo toàn được nền độc lập của mình.

Nói tóm lại sự hiện diện của chúng ta từ hơn 400 năm nay tại Nam bộ rất là hợp tình, hợp lý và hợp pháp.  Nói một cách khác công cuộc Nam tiến của tổ tiên ta là một sự kiện lịch sử bất di bất dịch,  nó hiển nhiên cũng như cuộc Tây tiến của người Âu Châu tại Mỹ Quốc và cuộc Đông tiến của người Anh tai Úc Châu.

Con sông Đồng Nai đã đưa ta đến tỉnh Biên hòa (hòa bình ở biên cương),  một trấn đã được sáp nhập vào nước ta năm 1653.  Khoảng đất này xưa được gọi là Đông phố đúng ra là Giãn phố vì hai chữ Đông và Giãn viết theo chữ Hán hơi giống nhau. Về sau nơi này đã được triều đình Huế giao cho bọn người Trung Hoa gốc Quảng Tây di cư theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình đến khai khẩn và lập nghiệp năm 1679 tại Cù lao Phố, sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ.

Miền trên Biên hòa thì có Hố Nai (hố sập nai),  Trảng Bom (trảng là một đồi bằng phẳng và rộng rãi có trồng nhiều cây chum-bao hom đọc trạnh thành bom,  sinh ra một thứ dầu gọi là chaulmougra,  dùng để trị phong hủi).  Phía dưới là nhà thương điên Nguyễn Văn Hoài,  một nhà bác học đã quả quyết với chúng tôi rằng trong một đời người, số giờ mà chúng ta điên cuồng cộng lại ít nhất cũng được vài năm !

Biên Hòa là quê hương của Đỗ Thành Nhân,  một trong Gia định Tam hùng.  Hai người kia là Võ Tánh quê ở Gò Công và Nguyễn Huỳnh Đức quê ở Tân An.  

Chúng ta đi ngang qua trước ngọn núi Châu Thới,  cao 65m trên có ngôi chùa Hội sơn,  được trùng tu vào đầu thế kỷ thứ 19,   nhờ công đức sư Khải Long.

Rồi đến Thủ Đức với những hồ bơi nước suối, và những gói nem ngon lành. Thủ nhắc lại ngày xưa có những chức quan văn như thủ bạ, thủ hô lo về việc thuế má và nhân thế bộ.  Do đó mà có những địa danh như Thủ Thiêm,  Thủ Thừa,  Thủ Ngữ v. v. .  để nhắc lại tên mấy ông thủ bạ và thủ hộ ngày trước.  

Phía tay mặt là Gò Vấp,  xưa kia là một ngọn đồi trồng cây vấp.  Thứ cây này xưa kia được coi như thần mộc,  yểm hộ cho dân tộc Chàm.  Dã sử thuật lại rằng vào đời vua Chiêm cuối cùng là Pô Romé (1627-1651), vua này muốn vừa ý một ái phi người Việt đã ra lệnh đốn cây Kraik (vấp) cổ thụ rợp bóng nơi vườn ngự uyển.   Hơn một trăm thị vệ lực lưỡng không sao hạ nổi vì vết rìu mỗi lần bổ xong thì khép lại ngay.  Nhà vua tức giận cầm lấy rìu hạ xuống một nhát, tức thời một tiếng rên rỉ vang lên và cây gục xuống giữa một vũng máu.  Và cũng từ đó vận khí nước Chiêm suy dần cho đến ngày tàn tạ.

Bây giờ ta vào thành phố Saigon,  nơi mà hơn 300 năm về trước (1674) tiền đạo quân ta lần đầu tiên đã đặt chân tới, mang theo khẩu hiệu : “Tĩnh vi nông,  động vi binh”.  Quân ta không phải tự động mà đến,  chính là do lời yêu cầu khẩn thiết của nhà đương cuộc hồi bấy giờ.

Họ khai khẩn đất đai với sức dẻo dai sẵn có,  đào sông ngòi trong vùng đất thấp và đây đó khắp nơi, xây dựng thành trì kiên cố.  Một trong những công tác quân sự ấy do tướng Nguyễn Đức Đàm xây năm 1772,  rồi đến thành trì Phan An xây năm 1790,  kế đến là thành Gia Định xây năm 1836. Những thành ấy xây đắp với mấy vạn nhân công và bao nhiêu tài trí.

Chúng ta đang ở trung tâm thành phố Saigon (Sài là củi,  gòn là bông gòn) chuyển sang chữ nho thành Sài-côn là củi gòn,  vì chữ nôm gòn viết là Côn,  như Ông Trịnh Hoài Đức (1765-1825) đã ghi trong tác phẩm Gia Định Thống Chí mà hiện nay chúng còn một bản dịch ra pháp văn của ông Gabriel Aubaret.

Theo một số người khác thì Saigon có lẽ do chữ Đê Ngạn đọc thành Tai Ngon hay Thay gon theo giọng Quảng Đông hay Tingan theo giọng Triều Châu, dùng để chỉ thành phố do người Tàu lập nên năm 1778 sau khi họ phải rời bỏ Biên hòa vì chiến sự giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, để nhờ sự bảo hộ của quân đội chúa Nguyễn đóng tại Bến Nghé.

Nguyên ủy xa hơn cả có lẽ là sự chuyển âm của một danh xưng tối cổ Preikor, có nghĩa là rừng gòn, một loại cây hiện nay còn trồng ở Thủ Đô.

Theo Ông Verdeille thì Saigon có thể là hai chữ nho: Tây Cống đọc chạnh ra, tên này ám chỉ rằng thành phố là phần đất xưa kia đã được các vị vua phía Tây cống hiến cho ta.  Ta nên lưu ý rằng tên Saigon chỉ được dùng trong các văn kiện của Pháp kể từ 1784 trở đi mà thôi.

Còn danh xưng của Chợ-lớn mà người Tây đọc liền lại là Cholon,  nó chỉ ngôi chợ xưa kia nằm trên địa điểm hiện tại của Sở Bưu điện Chợ-lớn kéo dài tới tận Đại Thế Giới cũ.  Chợ này lập song song với chợ nhỏ hiện nay còn tồn tại với tên chợ Thiếc ở phía trường đua Phú Thọ.  Về sau Chợ-lớn được dời tới Chợ-lớn mới do nhà đại phú Quách Đàm xây tặng,  tượng họ Quách vẫn còn ở giữa đỉnh chợ Bình Tây

Sự biến đổi địa âm dạng của địa danh Saigon đã tùy sự hiện diện liên tiếp của những người quốc tịch khác nhau như Preikor (rừng gòn), Tai- Ngon hay Thầy gòn của người Trung Hoa mà ta đọc là Đê-ngan, người phương Tây dùng chữ La mã ghi là Saigon từ năm 1784.

Hồi xưa tên Saigon chỉ áp dụng cho khu vực Chợ lớn hiện thời,  còn chính Saigon bây giờ thì khi ấy là Bến Nghé (theo Trịnh Hoài Đức,  theo các nhà hàng hải Âu Mỹ,  theo bản đồ do ông Trần Văn Học vẽ ngày mùng 4 tháng chạp năm Gia-long thứ 14 (1815) ghi trên vùng Chợ-lớn hiện tại chỗ nhà thương Chợ-Rẫy ba chữ Saigon xứ,  khoảng gần Cây Mai và Phước Lâm) Khu Saigon cao,  nằm phía Đồn Đất tức là cái đồn thâu hẹp năm 1836 sau khi Lê Văn Khôi nổi loạn,  chắc đã có người ở từ thời thượng cổ,  chứng cớ là những khí giới và đồ dùng bằng đá mài tìm thấy khi đào móng nhà thờ Đức Bà.  Khu thấp thường gọi là Bến Nghé hay bến Thành.

Bến Thành là cái tên ở gần hào thành Gia-Định,  nguyên trước có cái rạch nối liền hào thành với sông Bến-Nghé và có cái chợ gọi là chợ Bền Thành.  Cái rạch ấy về sau lấp đi thành Đại lộ Nguyễn Huệ

Bến Nghé theo Trịnh Hoài Đức là cái bến uống nước của trâu con,  do một tên rất cũ là Kompong Krabey (bến trâu) đã được Việt hóa.  Nhưng ông Đốc phủ Trần Quang Tuất (1765-1825) cho rằng nơi đây có lắm con cá sấu chúng thườn kêu nghé nên gọi là Bến Nghé – Trịnh hoài Đức dịch là “Ngưu-tân”.  Bến Nghé là cái bến sông Saigon có tên là sông Bến Nghé,  cũng có tên là Tân Bình Giang hay là Đức Giang lấy nguồn ở Ban Bót (theo Gia-định thống chí).  Còn cái rạch Bến nghé nối dài bởi kinh Tàu -hủ (Arroyo chinois) ngày xưa có tên là Bình Dương và chỗ nó chảy ra giáp sông Bến Nghé gọi là Vàm Bến Nghé. Bến Nghé tức là Saigon và khi ta nói Đồng Nai-Bến Nghé tức là nói đến Nam Bộ vậy.

Phía đông Saigon có một cái kênh gọi là rạch Thị Nghè hay là rạch Bà Nghè.  Bà tên là Nguyễn Thị Canh,  con gái thống suất Nguyễn Cửu Văn tức Văn Trường Hầu,  đẹp duyên với một ông nghè.  Để cho chồng bà tiện đường qua rạch hàng ngày vào làm trong thành,  bà cho dựng một chiếc cầu mà dân sự có thể dùng được.  Để tỏ lòng nhớ ơn một bậc nữ lưu,  họ đã gọi cầu ấy là cầu Bà Nghè.  Đến khi Tây đến đánh thành Saigon, pháo hạm Avalanche tiến vào rạch này đầu tiên nên họ mới gọi là Arroyo de l’Avalanche.

Trên rạch Bến Nghé hồi xưa có nhiều chiếc cầu ván dựng tạm cho người qua lại.  Chiếc cầu nổi tiếng hơn cả là cầu Ông Lãnh,  được xây nhờ công ông Lãnh binh,  thời tả quân Lê Văn Duyệt.  Còn những chiếc cầu khác là Cầu Muối,  Cầu Khóm (thơm),  Cầu Kho và Cầu học (giếng học).  Về các công sự thì có :

- Chợ Bến Thành (mới) xây năm 1914 trùng tu năm 1950

- Nhà thờ Đức Bà khởi công năm 1877,  hoàn thành năm 1883

- Sở Bưu Điện và Tòa án cất năm 1883

- Dinh Norodom khởi công ngày chủ nhật 23-2-1868 với sự tham dự đông đảo của dân chúng (sẽ đăng trong 1 bài viết khác, cụ thể hơn).  

- Tòa Đô Sảnh (1901-1908) trên có một gác chuông do họa sĩ Ruffier trang trí mặt tiền Viện Bảo Tàng Quốc Gia xây năm 1927,  khánh thành ngày 1-1-1929.

- Vườn Cầm Thảo (Sở Thú hay thường gọi là Thảo cầm viên) tương tự với rừng Vincennes ở Pháp, được lập năm 1864. Sau khi đã san bằng, việc đứa thú tới nhốt nơi đó hoàn tất năm 1865.

- Ba-Son (Arsenal) trong có một bến sửa tàu (bassin de radoub) xây bằng ximăng cốt sắt từ năm 1858, và bến tàu nổi được hạ thủy tháng giêng năm 1866.  Chữ Ba-Son do chữ Bassin mà ra.

- Vườn Bờ Rô (do chữ Jardin des Beaux Jeux) hay là vườn Ông Thượng,  xưa kia là hoa viên của Tổng Trấn Lê Văn Duyệt,  nay là vườn Tao Đàn.

- Dakao là biến danh của Đất Mộ (đất của lăng) Lăng-tô là biến danh của Tân thuận,  tên một làng mà dân Saigon thường đến hóng mát (pointe des flaneurs)...

Từ Thủ-Thiêm chúng ta thẳng tiến đến một nơi gọi là Nhà Bè hay là Ngã Ba Sông Nhà Bè,  nơi mà con sông Đồng Nai gặp con sông Saigon cũng gọi là sông Bến Nghé.  Ngày xưa ở chỗ ấy ông Thủ khoa Hườn có lập nhà bè để bố thí lúa gạo cho những kẻ lỡ đường

Rời Nhà Bè,  chúng ta trở lại Saigon để đi về miền Bà Chiểu,  một vùng ngoại ô trù mật ở phía đông,  chúng ta phải đi qua một cái cầu gọi là Cầu Bông,  vì xưa kia ở gần đó Tả Quân Lê Văn Duyệt có lập vườn hoa rất ngoạn mục.

Bà Chiểu tỉnh lỵ Gia Định,  nổi tiếng về lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764-1832),  một vĩ nhân được người Việt và người Tàu tôn thờ như một vị thần thánh.

Theo Trương Vĩnh Ký thì Bà Chiểu là một trong 5 bà vợ của ông Lãnh Binh đã xây cái cầu ông Lãnh.  Theo phương pháp kinh tế tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng,  ông đã lập ra 5 cái chợ,  giao cho mỗi bà cai quản một cái : Bà Rịa (Phước Lễ),  Bà Chiểu (Gia-Định),  Bà Hom (Phước Lâm),  Bà Quẹo (phía Quán Tre) và Bà Điểm (phía Thuận Kiều).  Riêng chợ Bà Điểm gần làng Tân thới quê hương của Cụ Đồ Chiểu tác giả Lục Vân Tiên,  thi phẩm đầu giường của đồng bào Nam bộ là nơi bán trầu ngon có tiếng ở Miền Nam.  Món trầu là đầu câu chuyện, cho nên bao nhiêu chuyện,  hay dở gì cũng do miếng trầu trao cho nhau mà sinh ra cả.

Từ Bà Chiểu chúng ta trở lại Saigon để rẽ về Phú Nhuận,  qua Cầu Kiệu hay là Cầu Xóm Kiệu là nơi xưa kia trồng rất nhiều hành kiệu.  Phú-Nhuận (giàu sang và thuần nhã) là nơi còn nhiều cổ tích như : Lăng Đô-đốc Võ Di Nguy,  mất tại cửa biển Thị Nại năm 1801.  Lăng Trương Tấn Bửu và lăng Võ quốc Công tức là hậu quân Vũ Tính,  nơi đây vua Gia-Long có cho trồng 4 cây thông đưa từ Huế vào để tỏ lòng mến tiếc. Võ Tánh là một trong Gia-Định tam hùng mà dân chúng nhắc tới trong những điệu hò giao duyên.  

Về phía Tân Sơn Hòa có Lăng Cha Cả là một cổ tích kiến trúc Việt Nam xưa nhất ở vùng Saigon.  Nơi đây mai táng Đức Giám Mục Bá-Đa-Lộc,  mất tại cửa Thị Nại năm 1799.

Rời khỏi ngoại ô Saigon chúng ta về vùng Lái-Thiêu (tức là ông Lái gốm họ Huỳnh đã thiêu nhà vì say rượu) để thăm vườn trái.

Nơi đây quy tụ rất nhiều trái ngon đặc biệt như : dâu da,  thơm,  bòn bon,  mít tố nữ,  măng cụt và nhất là sầu riêng (Durion) là giống cây từ Mã-Lai đưa vào Cây Sầu riêng thân cao lá ít,  trái có gai bén nhọn kinh khủng,  cho nên trời chỉ cho phép nó rụng khi đêm khuya thanh vắng mà thôi! Đồng bào Nam-bộ liệt nó vào hàng đầu trong các loại trái,  vì nó có đủ năm mùi hương vị đặc biệt như quả lê Trung hoa.  Những người xa lạ phải chịu nhẫn nại một thời gian mới thông cảm và khi đã thông cảm rồi thì thèm muốn như mê say.

Sài Gòn – Bến Nghé hay Đồng Nai xưa, dù gọi bằng tên gì, vẫn luôn là một phần máu thịt của dải đất hình chữ S. Gìn giữ những địa danh này, hiểu đúng về nguồn gốc của chúng, chính là cách chúng ta bảo tồn cái "Văn hóa" mà tôi vẫn hằng tin tưởng: một nền văn hóa không lạm dụng ngoại lai, không làm méo mó tiếng mẹ đẻ, mà luôn tự tại và giàu lòng trắc ẩn như chính tính cách của con người Nam Bộ.

 Chút "vàng son cũ" này, xin gửi lại cho những ai còn nặng lòng với tiền nhân, để thấy rằng trong mỗi bước chân ta đi hôm nay, vẫn luôn có bóng dáng của cha ông thuở trước...