24/06/2026

Bác sĩ Alexandre Yersin (1863–1943) - CÔNG DÂN DANH DỰ (*) của Việt Nam Ta.

 Dựa vào tài liệu đăng trên Saigon vi vu

 (Bài dài nhưng rất đáng đọc)

 


Dịch hạch từng là nỗi kinh hoàng khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại, có thời điểm đã cướp đi sinh mạng của hai phần ba dân số châu Âu và một phần ba dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Alexandre Yersin là người đầu tiên tìm ra vi khuẩn này (trực khuẩn Yersinia pestis), đặt nền móng cho các nhà khoa học về sau khống chế hoàn toàn căn bệnh tử thần.

Cuộc đời của Yersin là một thiên sử ký kỳ thú mà từng trang viết về Ông đều gắn chặt với hai tiếng: Việt Nam.

Tốt nghiệp tiến sĩ y khoa tại Paris với đề tài về bệnh lao, ông cùng người thầy hướng dẫn, giáo sư Roux đã vang danh khi phát minh ra độc tố bạch hầu. Thành tựu xuất sắc ấy lọt vào mắt xanh của thiên tài Louis Pasteur, đưa Yersin vào làm việc tại Viện Pasteur Paris danh giá. Thế nhưng, dòng máu thám hiểm sục sôi trong lồng ngực đã khiến vị bác sĩ trẻ nằng nặc xin nghỉ việc để làm thủy thủ trên tàu viễn dương, dù bản thân chưa một ngày có kinh nghiệm đi biển. Ông bảo: "Đời mà không đi, thì còn gì là đời".

Sau mỗi chuyến hải trình, khi quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur mời ăn tối để nghe báo cáo. Cuốn hút trước những thông tin mới mẻ từ người học trò, Pasteur căn dặn Yersin hãy làm việc gì thì làm cho trọn vẹn để "vang danh thiên hạ, giúp đỡ nhân loại". Vâng lời thầy, Yersin lại xách hành lý lên tàu. Hình ảnh người trí thức trẻ khăn gói xuống thuyền, dọc ngang quả đất sau khi học xong là một biểu tượng tuyệt đẹp của những con người sống có lý tưởng.

Đến Việt Nam năm 1891, ông làm bác sĩ trên các chuyến tàu chạy dọc Sài Gòn, Manila, Hải Phòng. Rồi trong một lần tàu cập bến Nha Trang, ông đã phải lòng cảnh sắc nơi này và quyết định chọn đây làm chốn dừng chân. Đầu thế kỷ 20, ông tham gia sáng lập và trở thành hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Y khoa Đông Dương (nay là Đại học Y Hà Nội). Tại đây, ông tự tay xây dựng giáo trình sơ khởi và đặt nền móng y đức cho các thế hệ bác sĩ nước nhà, quy hoạch mạng lưới bệnh viện khắp các tỉnh thành theo khoảng cách địa lý sao cho "ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến chữa trị kịp thời".

Nhưng Thăng Long hào hoa cũng chỉ giữ chân người lữ khách được hai năm. Ông quay về với biển Nha Trang, bắt đầu chuỗi ngày vừa làm khoa học vừa dấn thân vào những vùng rừng núi đại ngàn Đông Dương. Ông chính là người đã phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, khai sinh ra thành phố Đà Lạt thơ mộng, rồi lập nên các Viện Pasteur tại Đà Lạt, Nha Trang, Sài Gòn và Hà Nội. Trại ngựa Suối Dầu do ông lập ra để lấy huyết thanh sản xuất vắc-xin từng là trại ngựa thuốc lớn nhất châu Á thời bấy giờ. Không chỉ vậy, ông còn di thực cây ký-ninh về trồng để chiết xuất thuốc trị bệnh sốt rét, với tâm nguyện biến Diên Khánh thành một đô thị dược phẩm cho cả vùng Đông Dương.

Ít ai biết rằng, rất nhiều loại cây công nghiệp mang lại giá trị xuất khẩu hàng tỷ đô-la cho Việt Nam ngày nay như cao su, ca cao, cà phê đều do chính Yersin mang về thuần hóa. Ông thử nghiệm trồng cà phê quy mô lớn ở Lâm Đồng, Đắk Lắk, Pleiku; nuôi cừu, trồng nho ở Phan Rang; nuôi đà điểu ở Ninh Hòa. Hầu hết các loại rau củ ôn đới quen thuộc hiện nay như cà rốt, súp lơ, su su, xà lách son, cà chua, hay các loài hoa lay-ơn, cẩm tú cầu... đều do ông cùng các đồng sự di thực vào. Những thức rau củ phương Tây xa lạ ấy, đã dần bước vào căn bếp và trở nên gần gũi, quen thuộc trên mâm cơm của người Việt Nam Ta.

Yersin là một triệu phú nông nghiệp đúng nghĩa. Nhờ đi đầu trong việc trồng và sản xuất mủ cao su cung cấp cho các hãng lốp xe lớn như Michelin, ông đã tích lũy được một nguồn tài sản cá nhân khổng lồ. Thế nhưng, ông từng khẳng định một nguyên tắc sống kiên định: "Tôi phải kiếm tiền kiểu khác, chứ không tài nào cầm được tiền của người bệnh". Toàn bộ lợi nhuận từ đồn điền và các hoạt động khoa học của ông đến tận ngày nay vẫn lặng lẽ được chuyển về các quỹ từ thiện và tài trợ cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

Sống một mình giản dị trong ngôi nhà gỗ ở Nha Trang cho đến cuối đời, ông biến nơi ở của mình thành một trại tế bần khổng lồ, luôn mở cửa ngày đêm cho người sa cơ lỡ vận, đói kém, ốm đau. Bản thân không vợ con, dâng hiến trọn vẹn cho khoa học, nhưng người dân nghèo quanh vùng kính yêu ông như cha mẹ ruột.

Có lần, lũ trẻ trong xóm lẻn vào nhà ông xem phim chiếu bóng rồi nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng liền bị ông cản lại: "Đừng la trẻ nhỏ, nghe lớn tiếng chúng sẽ sợ". Một lần khác, khi ông đang lái xe hơi, một người dân bất cẩn lao vào xe ông. Dù lỗi hoàn toàn thuộc về người đi bộ, Yersin vẫn vội vã đỡ họ dậy băng bó, xin lỗi họ và kiên quyết trả lại xe hơi cho chính phủ để chuyển sang đi xe đạp. Ông bảo: "Dân chúng xứ này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng không gây thương vong cho họ". Ngay cả khi lên Tây Nguyên tìm thuốc và bị người bản địa bắt giữ, định hành quyết, chính ánh mắt chân thành, thiện lương kỳ lạ của ông đã làm lay động những mũi tên hòn đạn. Họ thả ông ra, để rồi sau đó ông trở thành người chữa bệnh và gửi thuốc men đều đặn cho cả buôn làng.

Giữa thời cuộc mà nhiều trí thức bản xứ tìm đường sang Pháp để tận hưởng sự văn minh sẵn có, Yersin lại như con cá bơi ngược dòng. Rời bỏ Thụy Sĩ giàu có quê hương, rời bỏ Paris hoa lệ với danh tiếng lẫy lừng, ông xuống tàu đi về phương Đông, một miền đất nghèo nàn, xa lạ. Ông chọn Việt Nam làm nơi sống, làm việc và gửi gắm thân xác. Ông luôn nói: "Tôi mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và tôi sẽ phụng sự cả tính mạng và cuộc đời tôi cho họ".

Năm 1943, Yersin trút hơi thở cuối cùng, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho giới y khoa và thám hiểm toàn cầu. Giây phút cuối đời, ông nhờ người quản gia dìu ra cửa sổ để nhìn về phía biển, nơi ghi dấu một thời dọc ngang tuổi trẻ. Đám tang của ông là đám tang lớn nhất xứ Trầm Hương thời bấy giờ. Nghe tin ông Năm mất (người dân nơi đây gọi Ông vậy), người dân bỏ hết công ăn việc làm. Tàu bè ngoài khơi vội vã cập bến xóm Cồn, tự nguyện ngưng đánh bắt nhiều ngày. Những người phụ nữ tiểu thương quanh năm lam lũ đã vứt bỏ quang gánh, bỏ cái nón lá quen thuộc để chít lên đầu mảnh khăn tang trắng xóa, tiễn đưa ông trong nước mắt nghẹn ngào. Cả người dân Hong Kong, nơi ông từng dập tắt trận dịch hạch kinh hoàng cũng hướng về ông với lòng biết ơn sâu sắc.

Trước đó, nước Úc từng mời ông sang thành lập Viện Pasteur, Hong Kong cũng tìm mọi cách giữ ông lại, nhưng ông từ chối tất cả để quay về dải đất hình chữ S mà mình đã trót lòng yêu thương. Di chúc của ông để lại vô cùng giản dị: "Tôi muốn được an táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển... Mọi tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm".

Công lao của ông với dân tộc này, với đất nước này là không thể nào đong đếm.

Thiết nghĩ, sách giáo khoa nên có nhiều bài học sâu sắc hơn về ông để các thế hệ mai sau mãi mãi ghi nhớ. Lòng biết ơn chính là thước đo độ văn minh của một cá nhân và của cả một dân tộc.

Và hơn cả lòng biết ơn, câu chuyện của Yersin là một lời thức tỉnh về tinh thần Phụng sự và Dấn thân

Phàm làm người, ai càng sớm tìm thấy lý tưởng sống và dám sống vì nó, người đó càng có một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn và không hối tiếc. Hãy cùng nhau sống trách nhiệm hơn, để làm cho Việt Nam tốt đẹp hơn mỗi ngày.

***
(*) 
Vào năm 2013, Chính phủ nước ta đã chính thức truy tặng danh hiệu "Công dân danh dự Việt Nam" cho bác sĩ Alexandre Yersin. Ông cũng là người nước ngoài đầu tiên và duy nhất cho đến nay nhận được vinh dự này. 

22/06/2026

Ánh sáng trong bóng tối (tên do Gem đặt)

 Nhặt đâu đó trên đường

 
Tranh do Gem minh họa khi đọc nội dung bài viết
 
 

Giữa trưa nắng như đổ lửa, tôi tình cờ gặp một cô gái trẻ đang bán vé số bên đường. Trên tay em là xấp vé số đã nhàu đi vì mồ hôi và nắng gắt. Điều khiến tôi chú ý hơn cả là đôi mắt em không còn nhìn thấy ánh sáng.

Lúc đó, tôi đùa rằng mình đang thất nghiệp, trong người chẳng còn đồng nào và hỏi em có thể cho tôi mượn 20.000 đồng để mua cơm không.

Tôi nghĩ em sẽ từ chối. Nhưng không.

Em lục trong túi, lấy ra 20.000 đồng rồi đưa cho tôi ngay (*). Đó là số tiền được góp nhặt từ việc bán hơn trăm nghìn đồng vé số cả buổi sáng.

Tôi hỏi:

– Sao em lại cho anh tiền?

Em cười nhẹ:

– Em nghe anh nói khó khăn nên em thương. Em cũng khổ mà anh. Em không thấy đường, nhưng còn đi lại được là may mắn rồi. Trước đây có nhiều cụ già thiếu thốn xin em vài chục nghìn, em giúp được thì giúp. Ai khó quá thì mình san sẻ chút, để người ta có cái ăn qua ngày.

Nghe những lời ấy, tôi bỗng thấy nghẹn lòng.

Có những người chẳng có gì trong tay, nhưng lại sẵn sàng cho đi nhiều hơn những người dư dả. Em không giàu tiền bạc, nhưng giàu lòng trắc ẩn.

Để đáp lại tấm lòng đó, tôi mua ủng hộ em 10 tờ vé số và gửi tặng em 500.000 đồng.

Khi cầm số tiền trên tay, em nở một nụ cười thật tươi. Dù đôi mắt không nhìn thấy ánh sáng, nhưng nụ cười ấy lại khiến mọi thứ quanh tôi như bừng sáng hơn.

Khoảnh khắc ấy làm tôi hiểu rằng, giá trị của một con người không nằm ở chỗ họ có bao nhiêu, mà nằm ở việc họ sẵn sàng chia sẻ bao nhiêu khi chính mình cũng đang thiếu thốn.

(*): Đừng nghĩ người khiếm thị không nhận biết được tiền và mệnh giá của nó. Trời thương, bù đắp cái thiếu sót đó bằng cảm giác và thính giác… rất nhạy, thậm chí họ còn phân biệt rõ tiền thật giả đó.

 

20/06/2026

Văn hóa Bắc – Nam: Hai dòng chảy làm nên một bản sắc Việt (tên do ChatGPT đặt)

Có sự hợp tác với ChatGPT trong việc chọn lựa cách diễn giải và biên tập.

 

 

Ảnh do ChatGPT tạo.

 Có một điều khá thú vị trong đời sống người Việt mình: chỉ cần nghe giọng nói, nhìn cách ăn uống, cách giao tiếp hay một vài thói quen nhỏ, người ta đôi khi có thể đoán được một người đến từ vùng nào.

Nhưng càng đi nhiều, càng đọc nhiều, tôi lại càng thấy những khác biệt ấy không phải là khoảng cách, càng không phải là lý do để so sánh nơi này hơn nơi kia. Nó giống như những lớp phù sa của thời gian bồi đắp lên từng vùng đất, mỗi nơi giữ lại một dáng vẻ riêng.

Có lẽ vì miền Bắc là một trong những vùng đất sớm định hình văn hóa Việt, nên trong đời sống đậm dấu ấn của truyền thống, của làng xã, của những phép tắc được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Người ta coi trọng lễ nghĩa, gia đình, họ hàng, sự trước sau trong cách ứng xử.

Còn miền Nam lại là câu chuyện của những cuộc lên đường. Những người rời quê đi mở đất mang theo vốn sống, phong tục, niềm tin và cả nỗi nhớ quê nhà. Nhưng khi đến vùng đất mới, họ phải học cách thích nghi, phải sống cùng những cộng đồng dân tộc khác nhau. Chính sự giao thoa ấy tạo nên một tính cách cởi mở, linh hoạt và dễ đón nhận cái mới.

Nhìn vào phong tục cưới hỏi, ta có thể thấy rõ hai cách giữ gìn văn hóa.

Ở miền Bắc, một đám cưới truyền thống thường trải qua nhiều nghi lễ: chạm ngõ, ăn hỏi, cưới xin. Những lễ vật như trầu cau, cốm, bánh phu thê... không chỉ là vật phẩm mà còn là cách hai gia đình thể hiện sự trân trọng, gắn kết và lời hứa với nhau. Đằng sau sự cầu kỳ ấy là một quan niệm lâu đời: hôn nhân không chỉ là chuyện của hai người mà còn là sự kết nối của hai gia đình.

Còn ở miền Nam, trong quá trình khai phá vùng đất mới, nhiều phong tục được giản lược để phù hợp hơn với hoàn cảnh sống. Lễ hỏi và lễ cưới ở nhiều nơi có thể gộp lại, nhưng nghi thức lên đèn trong lễ cưới lại giữ một ý nghĩa rất sâu sắc: ngọn lửa là biểu tượng của sự tiếp nối giữa tổ tiên và thế hệ sau.

Một bên coi trọng sự đầy đủ của nghi lễ, một bên coi trọng sự thuận tiện và tình cảm. Nhưng suy cho cùng, cả hai đều hướng về một điều giống nhau: mong muốn một gia đình mới được tổ tiên chứng giám và cuộc sống được tốt đẹp hơn.

Sự khác biệt ấy cũng thể hiện trong văn học, tựa như:

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du là đỉnh cao của dòng văn chương bác học, nơi mỗi câu chữ đều được gọt giũa để gửi gắm những suy tư về thân phận con người.

Trong khi đó, “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu lại gần với đời sống người dân Nam Bộ hơn. Cách kể chuyện giản dị, dễ nhớ, dễ truyền miệng, bởi mục đích không chỉ là thưởng thức văn chương mà còn là gửi gắm đạo lý làm người.

Một bên thiên về sự chiêm nghiệm, một bên thiên về sự lan tỏa. Nhưng cả hai đều xuất phát từ tâm hồn Việt: biết yêu cái đẹp và coi trọng nghĩa tình.

Sự khác biệt ấy còn thể hiện rất rõ trong mâm cơm hàng ngày. Người Bắc thường chú trọng sự hài hòa, thanh vị, giữ cái tinh của từng nguyên liệu. Người Nam lại có xu hướng kết hợp mạnh hơn, nhiều màu sắc hơn, tận dụng sự phong phú của sản vật miền đất mới.

Nhưng rồi theo thời gian, phở Bắc có mặt trong Nam, bánh tét Nam quen thuộc ở nhiều nơi ngoài Bắc. Văn hóa, suy cho cùng, không đứng yên trong một vùng đất; nó luôn vận động cùng con người.

Nghĩ kỹ thì hai nét tính cách ấy đều bắt nguồn từ một điều giống nhau: con người Việt Nam luôn tìm cách tồn tại và xây dựng cuộc sống trong hoàn cảnh của mình.

Người miền Bắc sống trong một không gian văn hóa lâu đời, nơi nhiều thế hệ trải qua những biến động của lịch sử, thiên tai và cuộc sống cộng đồng, nên hình thành thói quen gìn giữ, tích lũy và coi trọng nền nếp.

Người miền Nam đối diện với vùng đất mới, rộng lớn, nhiều thử thách, nên học cách hòa nhập, hợp tác và lược bỏ những hình thức không còn phù hợp với hoàn cảnh mới.

Một bên giữ cái đã có, một bên tạo ra cái mới. Một bên giống như gốc cây lâu năm, một bên như cành non vươn về phía nắng.

Nhưng tất cả vẫn chung một thân cây Việt Nam.

Có lẽ, khi hiểu được mỗi vùng đất đã đi qua một hành trình riêng, ta sẽ biết trân trọng sự khác biệt thay vì biến nó thành khoảng cách. Bởi một cây cổ thụ không thể chỉ có một cành, và một đất nước cũng không thể chỉ có một sắc màu.