Vũ Thế Thành
Một nhà sư Myanma dừng chân khi đi khất thực
Pháp tắc của người tu hành Phật giáo là phải đeo dính Y - Bát bên mình, như loài
chim không thể rời lông cánh” (Luật Ma-ha-tăng-kỳ, quyển 8, bài 2). Nên, “Ba y
một bát” là thành ngữ tả Tăng - Ni. Nói tuy gọn vậy, nhưng bên trong có
nhiều lắt léo. Tỷ như tiếng là Y nhưng không phải áo, kêu bằng Bát nhưng khác
cái tô, cái bát.
Ba
Y
Y đây là tấm vải hình chữ nhật, chạy viền bốn cạnh đơn sơ.
Do ảnh hưởng trang phục Ấn, Tăng - Ni toàn quấn y, chứ không mặc áo quần như
người thường.
Các môn đệ đời đầu của Đức Đức Thích-ca phải mót ba mớ vải vụn,
vải dơ người ta bỏ đi rồi khâu lại dùng (Phẩn
tảo y), miễn đủ che thân là được. Và vì xứ Ấn nóng nực nên chỉ cần quấn một
tấm, tức chỉ Nhất y.
Lần hồi mối đạo phát triển, đàn-na (tựa như fan thời nay vậy) tín thí bắt đầu dâng vải
cúng dường. Nhà giàu cúng nguyên khúc vải, nghèo thì hùn cúng mỗi người vài tấc.
Nhưng đức Đức Đức Thích-ca không muốn môn đồ mình quấn nguyên tấm vải liền lạc.
Theo Tứ phần luật, bữa nọ tăng đoàn đi ngang cánh đồng, Đức Đức
Thích-ca thấy mấy thửa ruộng đều đặn nhìn đã mắt, mới bảo A-nan chế y theo kiểu
đó. Tôn giả A-nan cũng rảnh, đem cắt nguyên tấm vải lớn thành nhiều miếng nhỏ
hình chữ nhật, theo cỡ dài ngắn đều nhau, rồi may ráp trở lại thành tấm y lớn.
Từ đó có quy định tỳ-kheo chỉ quấn y từ vải cắt nhỏ (Thiện kiến luật, Quyển 7). Đời sau kêu
đây là “Phước điền y”, với ý nghĩa
đây là thửa ruộng do đàn-na thí chủ gieo trồng phúc đức. Thật ra hồi xưa, tấm vải nguyên là tài sản đáng
giá, nên phải cắt nhỏ ra để khỏi bị bọn cướp lột mất.
Tới nay, trang phục tăng ni tùy thời thế, thung thổ, hệ phái
mà đẻ thêm nhiều kiểu, nhưng tấm y choàng (Tăng-già-lê)
đều kêu Cà-sa, có vị thế đặc biệt và được giới luật quy định chi tiết, rõ ràng.
Đêm đông nọ trời lạnh. Đức Đức Thích-ca lúc đầu chỉ quấn một
y. Nửa đêm thấy hơi lạnh, mới quấn thêm cái nữa. Rạng sáng càng lạnh, phải quấn
cái thứ ba. Do đó ông đặt ra ba y cho các tỳ-kheo.
Theo luật Ma-ha-tăng-kỳ (Quyển 8, Bài 1), ba y gồm:
– An-đà-hội (antarvāsa): Quấn khúc dưới, che từ rốn tới đầu
gối; tạm kêu y dưới. Quấn khi ngủ hoặc lúc làm lụng.
– Uất-đa-la-tăng (uttarāsavga): Che thân trên, từ vai xuống
quá gối; tạm kêu y trên. Quấn thêm khi hội họp hoặc vào chỗ công cộng.
– Tăng-già-lê (aṁghāti): Tấm y to nhất, phủ cả thân từ vai
xuống quá bắp chân, còn kêu Đại y; đây tạm kêu y ngoài. Để quấn trong nghi lễ
trang trọng.
Đắp thêm y cốt để chống lạnh, nên Đức Đức Thích-ca dặn: y dưới
(An-đà-hội) với y trên (Uất-đa-la-tăng) chỉ cần một lớp, riêng y
ngoài (Tăng-già-lê) được may hai lớp.
Như ai già yếu bệnh hoạn chịu lạnh không nổi, có thể đắp thêm mấy y cũ.
Về sau, các bậc học nhiều hiểu rộng lại cài thêm ý nghĩa,
cho là ba y tượng trưng “tam nghiệp thanh
tịnh”: Ngũ điều y tiêu trừ Tham thân
nghiệp, thất điều y cắt đứt Sân khẩu nghiệp, đại y dứt bỏ Si tâm nghiệp. Làm vậy
chẳng qua để nhấn mạnh: Ba y là vật trọng, tỳ-kheo không được rời thân.
Theo Căn bản Thuyết-nhất-thiết Hữu-bộ Tỳ-nại-da (Quyển 17),
Đức Đức Thích-ca chỉ quy định khổ vải cho y trên theo chiều đứng là ba cùi chỏ
(dang ngang cùi chỏ ra theo động tác quấn
y, tính là một chỏ; cỡ tám tấc), rộng năm chỏ; y dưới chiều đứng hai chỏ rưỡi,
rộng bốn chỏ rưỡi. Tức là hồi đầu, mạnh ai nấy tùy cỡ người mà may y, miễn vừa
vặn là được.
Chừng có Phước điền y, mới đặt ra lệ ráp mớ vải cắt nhỏ kia
thành nẹp, theo chiều dọc. Cứ nẹp nầy miếng ngắn trên miếng dài dưới, thì nẹp kế
ráp so le miếng ngắn dưới miếng dài trên. Số nẹp luôn là số lẻ, để hai nẹp
ngoài cùng cân đối cho vừa mắt.
Hồi đó Đức Đức Thích-ca quấn hoài một Tăng-già-lê, tấm y trắng
lâu ngày ố màu rồi sạm đi. Nên y Tăng-già-lê còn kêu Cà-sa, là phiên âm từ Phạn
ngữ “Kaṣāya”, nghĩa là sạm màu (Hoại sắc);
ý nói manh áo cũ mặc lâu ngày. Cà-sa bởi vậy luôn có màu tối.
Theo Bách nhất Yết-ma (Quyển 9), cà-sa có ba màu căn bản: “Cà-sa phải nhuộm cho hoại sắc, thành ra
xanh đen (màu rỉ đồng), hoặc thâm (màu bùn), hay vàng nghệ (màu đất nung)”.
Tùy nguyên liệu nhuộm mà màu y mỗi xứ có khác nhau. Ở Ấn Độ,
tăng sĩ mặc y vàng nghệ hoặc nâu đỏ. Bên Tàu thời xưa thì cà-sa đỏ, sau nầy
thêm màu đen, xanh và vàng đậm. Màu y của thầy chùa Việt thì tùy, Bắc tông
khoác cà-sa vàng, Nam tông quấn y theo truyền thống, thường nâu đỏ, đỏ đậm hay
vàng đậm.
Tóm lại, Tam y là nói chung bộ đồng phục dành cho hàng Tỳ-kheo
đã thọ đủ giới luật (Cụ túc giới), được ấn chứng đàng hoàng. Còn hàng Sa-di chỉ
được quấn Mạn y (Paṭṭa) là loại y trơn, vải liền, tuy tương tự nhưng không có nẹp.
Nó tựa như áo măng-tô trong bộ cảnh phục: phải đại tá công an trở lên mới được
khoác, cỡ hạ sĩ quan làng nhàng đố dám mặc.
Có điều, mặc
láo cảnh phục có thể đi tù; nhưng quấn láo ba y đội lốt tỳ-kheo, thì chưa từng
thấy đứa nào ăn bạt tai. Bởi vậy tụi đó đâm lờn, để đời nay chiếc áo lại làm
nên thầy tu.
***
Một Bát
Bát đây là cái tô đựng cơm, một trong sáu pháp khí thiết thân của thầy
chùa.
Bình bát nếu kêu đầy đủ là Bát-đa-la (pātra – cái bát, cái tô), danh từ
mượn của đạo Bà-la-môn. Theo Ma-nô Pháp luận (Chương 6), cuộc đời một Bà-la-môn
chia làm bốn giai đoạn, tới giai đoạn cuối là lúc cầu giải thoát, tốt nhât nên
vào rừng núi ẩn dật, sống đời đạm bạc, bưng bát xin ăn, chỉ cầu đủ ngày một
bữa. Bình bát Bà-la-môn đều bằng sành hoặc gỗ, tuyệt đối không dùng bát kim
loại.
Còn bình bát Phật giáo thì theo kinh Đại phẩm, khi Đức Đức Thích-ca thành
đạo, có hai anh em lái buôn tới cúng dường bánh bột gạo với mật ong. Đức Phật
phân vân vì không thể trực tiếp thọ nhận bằng tay không. Tứ đại Thiên vương
liền hiện thân, mỗi vị dâng lên một Bát-đa-la đặng đựng đồ ăn. Đức Thích-ca chồng
cả bốn trên lòng bàn tay trái, lấy tay phải ép lại thành một bát đá để thọ
thực.
Vì dùng để đựng vật thực do bá tánh bố thí, nên bình bát cũng tượng trưng
“Phước điền”.
Có quy định nghiêm ngặt trong việc dùng bát, phải bưng bát đúng điệu bộ
nghiêm chỉnh đàng hoàng cho ra oai nghi Tỳ-kheo. Nếu bát hư hoặc lủng, phải đắp
vá lại xài tiếp, chừng nào lủng hơn ba lỗ mới thay bát khác.
Bát của tăng ni luôn có phần bụng phình
ra, miệng khum, đáy thu nhỏ.
Luật Tứ phần quy định bình bát phải đủ ba tiêu chuẩn:
a) Thể tương ứng: Thể 體 đây là chất liệu. Bát phải làm bằng thứ rẻ tiền, để khỏi gợi
lòng tham. Chỗ này mấy thầy chùa hay làm bộ bí hiểm, nói chỉ Đức Thích-ca mới
được xài bát đá. Thiệt ra thiếu cha gì chất liệu bền tốt, gọn nhẹ; đâu ai rảnh
bắt chước Giáo chủ, đi xài thứ bát đá dễ nứt bể.
Cụ thể, theo kinh Tiểu phẩm, Đức Thích-ca nói: “Này tỳ-kheo, đừng ham xài bình bát bằng vàng, bạc, ngọc ma-ni, ngọc
bích, pha-lê, đồng đỏ, chì, thiếc, đồng thau. Đứa nào làm vậy là phạm tội
Đột-cát-la (Dukkata). Này tỳ-kheo, ta
chỉ cho dùng bát sắt với bát sành”.
b) Sắc 色 tương ứng:
Bát phải một màu tối (đen, nâu, xám),
để tỳ-kheo khỏi sinh lòng gắn bó.
Ngoài ra trên thành bát, cả trong lẫn ngoài đều không được vẽ vời, khắc
chạm hoa văn hay gắn thêm trang trí, cũng không được ngựa bà, đánh bóng cho
láng coóng lên (nếu lỡ nhận được bát có
trang trí phải mài bỏ hoa văn, bát sáng bóng phải mài cho bớt sáng).
c) Lượng tương ứng: Lượng 量 là sức chứa (dung tích), chỉ vừa đủ ăn, để tỳ-kheo khỏi ham
ăn ham uống.
Tứ phần luật chép có ba cỡ bát: nhỏ, vừa và to. Đại khái từ 0.9~1.8 lít.
Dùng bát lớn nhỏ tùy sức ăn mỗi người, nên Tàu có khi lấy nghĩa, dịch chữ
Bát-đa-la thành Ứng lượng khí 應量器
Và Tỳ-kheo phải dùng bữa bằng bát đó, tuyệt không dùng tô bát như người
thế tục.
Các Tỳ kheo để bát dưới đất thường khi bị lật, đổ cơm canh ra ngoài. Đức
Thích-ca mới bảo: “Tụi bây có thể dùng
đồng, sắt, sừng, ngà, ngói, đá, gỗ… làm thành cái đế, để giữ bát cho vững; hoặc
lấy rơm cỏ lót đít bát cũng đặng”. Đế này kêu “Bát chi”.
Thêm Bát chi thành ra vướng víu, tụi Tỳ-kheo nhiều khi lọng cọng, làm rớt
bể bà nó bát. Đức Thích-ca lại bày may túi vải để đựng cho gọn, kêu “bát nang”.
Đây là tiền thân cái tay nãi các thầy chùa ngày nay thường đeo bên mình.
Rồi tới cái nắp. Nắp này không có trong Phật chế, nhưng nay thầy chùa
thường dùng, nhất là nhánh Nam truyền. Nắp đậy để tránh cát bụi hoặc ruồi bu
kiến đậu, làm dơ cơm canh. Ngoài ra khi khất thực, còn có thể dùng nắp này làm
đế.
Tóm lại, bình bát là đồ nghề kiếm ăn của hàng Tỳ-kheo. Bất cứ đứa nào
không phải Tỳ-kheo mà ôm bình bát hay thứ gì đó, có hình dạng hoặc công dụng
tương tự, đều quân lừa đảo đội lốt thầy chùa.
* * *
Vậy đó, ba y một bát là pháp khí thiêng liêng, Tỳ-kheo phải giữ kỹ cho
tới trót đời.
Người ta thường nói thầy chùa là kẻ đã từ bỏ mọi thứ trên thế gian. Ít ai
biết họ có thứ cuối cùng không thể xả bỏ, chính là ba y một bát. Nhất là cái
cà-sa (tăng-già-lê). Thứ gì cũng bỏ được, kể cả tượng Phật bên mình, nếu cấp
thiết cũng có thể bỏ đi, nhưng cà-sa phải giữ tới cùng.
***
Giải thích:
·
Cụ túc giới 具足戒
(Upasampadā): Đã thọ trì trọn đủ Giới luật. Khi thọ Cụ túc là chính thức thành
tỳ-kheo. Tỳ-kheo tăng có 250 giới phải giữ, tỳ-kheo ni 348 giới. Trước đó sa-di
có thể tùy căn cơ mà rút ra năm bẩy giới làm phương tiện tu tập lần lần. Chừng
nào giữ được hết thẩy 250 giới luật đó mới là Cụ túc. Kèm theo nhiều điều kiện:
từ 20 tuổi trở lên, thân thể tráng kiện, tinh thần khỏe khoắn, có đủ lục căn
(không bị mù, câm, điếc, lé…), không có tiền án, đủ tướng xuất gia (không bị
gù, niễng). Thọ giới Cụ túc tức là đã đủ sức xa lánh mọi tội ác trong mọi hoàn
cảnh (điều nầy tất nhiên chỉ là lý thuyết, còn thực tế hổng phải ai cũng được
vậy). Khi thọ giới Cụ túc, phải có đủ ba thầy truyền giới, bảy vị chứng minh
v.v…
·
Tỳ-kheo Lục vật, gồm: tam y (tính là ba món),
cộng với bình bát, bồ đoàn, túi lọc nước.
·
Đột-cát-la (Duṣkṛta): Loại tội nhẹ, chỉ cần hối
lỗi trước người bị phạm (khi cố ý phạm), hoặc ăn năn tự trách (khi không cố ý
phạm) là được.
·
đời nay nhà chùa cũng du di, cho xài bát nhôm
và bát inox, vì vừa rẻ vừa bền lại tiện dụng.
·
…Còn nhiều lắm, nhờ các bạn tìm thêm trên net
hộ nhé.