Trận
đánh ngày hôm ấy (12/7/1984) tại mỏm
3 đồi Con Voi diễn ra vô cùng ác liệt.
Sau khi
đẩy lùi đợt phản kích thứ 2 của địch thì mưa cũng tạnh hẳn, màn sương mù dày đặc
cũng tan dần, đội hình chiến đấu của đơn vị phơi trần, lộ rõ trên sườn đồi trước
mắt quân địch.
Mười một
giờ địch tập trung lực lượng khá đông, từ hai hướng tấn công vào khu vực tiểu
đoàn đang chiếm giữ. Tiếng la hét, tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ chát chúa, đất
đá bay rào rào, khói bụi mịt mù..., từ mỏm 2 xuất hiện một hỏa lực nhằm vào khu
vực chỉ huy nhả đạn từng loạt như roi quất.
Tôi
nhoài người vượt lên áp sát ta luy vách núi tránh đạn. Trung đội trưởng vận tải,
Thiếu úy Lê Xuân Thanh nhảy vào hố chiến đấu tôi vừa ngồi thì trúng đạn gục xuống,
chiến sỹ Thọ giơ tay đỡ Thanh, máu trên ngực Thanh vấy đầy mặt Thọ, ướt cả ngực
và vai áo Thọ. Súng nổ dồn, tiếng la hét càng rõ, giật bộ đàm trên tay chiến sỹ
Chu Văn Khiêm, tôi báo cáo rõ với Sư đoàn trưởng Bùi Thanh Điếm diễn biến hiện
tại và tình hình của đơn vị mình, đồng thời đề nghị pháo bắn ngay vào đỉnh mỏm
3 địch đang tập trung lực lượng phản kích.
Từ ngã
3 chiến hào phía trước mặt, một tiếng nổ lớn, đất đá, khói bụi trùm kín đỉnh đồi,
lợi dụng làn khói bụi, tôi khoát tay lệnh cho bộ đội rút lui.
Khi tôi
về đến vị trí xuất phát tiến công thì cũng là lúc pháo địch từng loạt, liên tiếp
bắn chặn đường rút quân của ta và các khu vực nghi có quân ta chiếm giữ. Tôi
nhào xuống căn hầm trước mặt đã chật cứng người và nhận được một loạt câu chửi
thậm tệ. Đưa tay chỉ về phía địch, tôi dằn giọng: Địch đang đến. Tiếng chửi im
bặt, các cặp mắt nhìn vào tôi.
Tôi tự
giới thiệu về mình: Tôi là Châu, chính trị viên Tiểu đoàn. Dò hỏi: Ở đây ai là
chỉ huy!? Im lặng! Rồi một cánh tay giơ lên và tiếng trả lời: Tôi - Đoan a trưởng
C10. Tôi vẫy Đoan theo tôi đến một đoạn hào đưa cho Đoan hai quả lựu đạn, chỉ
hướng cảnh giới, dặn dò Đoan, rồi tôi lần theo mương nước đến vị trí của Đại đội
11.
Dưới bụi
tre, chiếc võng được mắc lọt thỏm trong căn hầm, người nằm trên võng rên thở nặng
nhọc, đến gần tôi nhận ra Nguyễn Văn Minh đại đội trưởng đại đội 11 (đột kích
1), đặt nhẹ tay lên người Minh, tôi gọi, mắt nhằm nghiền Minh nói trong hơi thở:
Đứa mô đó? Mình - Châu đây. Minh nấc lên: Anh ơi, em chết mất. Nhớ ngày này khi
mô về Thành Vinh ghé nhà em thắp cho em nén nhang anh nhé, rồi khò khè thở...,
ghé tai Minh tôi nói nhỏ: Mi không chết được, tau còn thì mi còn!
Về chiều
mưa lại ập đến ướt sũng...
Đến 23
giờ, tôi mới về tới sở chỉ huy tiểu đoàn, trước mắt tôi kẻ ngồi, người nằm, tiếng
rên, tiếng thì thào, mưa rơi lộp bộp trên lá.
Hồ Hữu
Bính trợ lý tác chiến thấy tôi trở về thì mừng rỡ. Bính báo cáo với tôi tình
hình đơn vị, rồi dẫn tôi tới hầm của Bính, trên chiếc cáng đặt trong lòng hầm
Trung đội trưởng Phạm Công Đa - Chỉ huy trung đội luồn sâu đánh trận địa pháo
binh địch bị thương rất nặng (lòi ruột), Bính ghé tai Đa gọi: Đa ơi! Trên cáng
Đa nằm bất động. Bính nấc lên: Hắn chết rồi. Đa trút hơi thở cuối cùng khi biết
mình đã được về trên đất mẹ.
Trở về
hầm chỉ huy, tôi gọi chỉ huy các đơn vị đến hội báo, sau thời gian bàn bạc căng
thẳng, tôi quyết định:
1. Đồng
chí Nguyễn Trọng Huấn - Trợ lý tổ chức trung đoàn cùng tổ trinh sát tìm về Sở
chỉ huy trung đoàn báo cáo tình hình, xin lực lượng chi viện.
2. Đồng
chí Hồ Hữu Bính - Trợ lý tác chiến tiểu đoàn tổ chức lực lượng của tiểu đoàn
đưa số thương binh, tử sỹ ra vị trí tạm dừng của đơn vị tại bình độ 600 và cùng
chỉ huy các đơn vị nhanh chóng ổn định tình hình đơn vị.
3. Tôi,
đồng chí Trần Lương b trưởng thông tin, Nguyễn Quang Hoan b phó vận tải, Nguyễn
văn Bảo y tá, 1 tiểu đội vận tải, tiểu đội truyền đạt ở lại tiếp tục làm nhiệm
vụ sẽ trở ra sau.
Trời
như theo giặc.... những cơn mưa lại trút xuống, bộ đội thì thầm gọi nhau, tiếng
chân bước xa dần, tôi chìm vào giấc ngủ mệt nhọc.
Ngày
13/7, ai đó giật mạnh
chân tôi, mở mắt... thằng Hoan vận tải miệng lắp bắp, tay chỉ về hướng mục
tiêu: Địch, quân địch! Tôi bật dậy xách súng theo Hoan trèo lên vị trí quan
sát, trên mỏm 3 lố nhố quân địch, có cả phụ nữ quần trắng, áo đỏ đang chỉ chỉ,
trỏ trỏ về phía ta. Hoan giơ súng ngắm, tôi cúi xuống kéo khóa an toàn rồi nói:
Mi muốn thành bã hả? Rồi dặn dò Hoan cắt cử quan sát, cảnh giới cẩn thận.
- Nó
cũng như mình, đang thu dọn chiến trường, rời vị trí quan sát, đi một vòng kiểm
tra khu vực mặt đối diện với mỏm 3 cây cối gãy đổ trống hoác, rừng cây măng đắng
bị đạn như ai cầm dao chặt gãy gục ngang đầu gối, không gian bàng bạc sương
giăng, mưa lép bép lành lạnh.
9 giờ
sáng Thiếu úy Dương Văn Long - C phó C16 cao xạ 12,7mm tìm đến, mắt Long đỏ
hoe, bơ phờ mệt mỏi báo với tôi tình hình đơn vị Long: Hy sinh 2 đồng chí, bị
thương 3 đồng chí, pháo hỏng 1 khẩu, đã cho bộ đội rút quân, đề nghị Tiểu đoàn
giúp chuyển tử sỹ và pháo hỏng. Tôi bảo Long tối nay tôi sẽ cho người cùng đi,
Long chào tôi rồi lầm lũi đi về trận địa.
Lúc này
mới thấy đói, gọi Hoan xem có gì ăn không? Hoan chạy đi một lúc mang đến cho
tôi một túi gạo sấy, tìm nước thì tất cả bình tông chẳng còn giọt nào, bảo Hoan
xuống suối lấy nước, Hoan chỉ sang phía mục tiêu rồi lắc đầu, tôi gật đầu, thôi
thì đành vậy, xé túi gạo sấy nhón từng hạt nhai tạm.
Thằng
Hoan khệ nệ bưng một cái hũ được gắn kín miệng mặt tươi tỉnh, lắc lắc cái hũ,
tiếng nước óc ách, miệng nói: Báo cáo anh: Nước! Tôi trừng mắt: Tổ cha mi, đây
là hũ đựng tro cốt của người chết!!! Bộ đội đưa mắt nhìn nhau, rồi khạc nhổ,
nôn ọe... Trời tối dần. 16 giờ thằng Long C phó hỏa lực tới, tôi hỏi Long đã ăn
uống gì chưa? Long lắc đầu, tôi nói với Hoan: Chi cho Đại đội phó một túi gạo sấy,
rất may là Long có bình tông nước, đổ nước đến ngang vạch chỉ định, một lúc sau
đã có cơm ăn ngon lành.
Tôi và
Long lần theo sườn dốc tìm về trận địa cao xạ, trời vẫn mưa rả rích, sương
giăng bịt bùng, trên mỏm 3 chốc chốc chớp lóe sáng, rồi tiếng lựu đạn nổ, cuối
cao điểm pháo sáng được bắn lên, ánh sáng lập lòe, mờ mờ tỏ tỏ như ma trơi, đâu
đó vài loạt súng bắn vu vơ chìm nghỉm trong đếm tối. Chúng tôi thận trọng dò đường,
tơí bờ suối một thi thể tử sỹ nằm ngửa, hai tay giang ngang khẩu AK trên bụng,
tôi ra hiệu cho Long lùi lại nghe ngóng động tĩnh, không có gì khả nghi, chúng
tôi gỡ súng ra khỏi người tử sỹ, dọn chỗ đặt nằm ngay ngắn, ngụy trang đánh dấu
rồi đi tiếp, giữa lòng suối một tử sỹ nằm úp, tay phải giữ chặt khẩu súng AK, gỡ
mãi mới lấy ra được. Đặt tử sỹ lên bờ che đậy, đánh dấu rồi đi tiếp (hai đồng
chí này anh em cho biết là trung đội trưởng ĐKZ Nguyễn Văn Công và Tiểu đội trưởng
Nguyễn Văn Tiến), Long kéo tôi ngồi xuống và chỉ tay vào triền đồi trước mặt và
nói: Đến rồi.
Trận địa
pháo cao xạ bị địch xới tung, khẩu 12,7mm queo nòng nằm chỏng chơ giữa đống cây
cối gãy đổ. Tôi hỏi Long: Tử sỹ đâu? Long chỉ vào căn hầm được phủ mảnh nilon,
miệng lắp bắp: Anh cho em vác pháo thôi!.... người run lên lập cập, nhìn vào tử
sỹ, nhìn Long... tôi rùng mình, nói với Long: Về thôi, rồi móc túi đưa cho Long
một hộp dầu cù là (cao sao vàng), tôi lặng lẽ tìm đường về Sở chỉ huy Tiểu
đoàn.
Ngày
14 tháng 7: Không thể
cất nổi mình dậy, cơn sốt rừng đã quật ngã tôi, quấn chặt mình trong chiếc màn
và mảnh tăng, người ép vào vách hầm mà vẫn rét run bần bật, tôi nghe tiếng thằng
Thanh tiểu đoàn trưởng thủ thỉ kể chuyện về phép đi hỏi vợ, rồi tiếng chân người,
tiếng chuyện trò lao xao đâu đó. Tôi mở mắt thấy thằng Bảo y tá đang ngồi cạnh,
anh em đơn vị đã vào vây quanh tôi, Nguyễn Huy Tình - Bí thư Đoàn; Tăng Ngọc
Châu - Trợ lý hậu cần; Hồ Sỹ Hoa - C phó C11...., Tình báo cáo với tôi tình
hình đơn vị và lệnh của Chỉ huy trung đoàn: Anh phải ra ngay để ổn định đơn vị
làm nhiệm vụ, việc trong này sẽ có người đảm nhiệm.
Ngày
15 tháng 7: Về đến vị
trí tập kết đơn vị (tại bình độ 600) thì trời cũng vừa sáng, gặp lại anh em mừng
mừng tủi tủi (lúc này tiểu đoàn còn lại 126 đồng chí). Trao đổi công việc với
Nguyễn Thành Chung trợ lý tác chiến trung đoàn được phân công xuống (sau này là
Tiểu đoàn trưởng), xong công việc tôi tìm về Sở chỉ huy trung đoàn, tới hầm
trung đoàn trưởng thì đồng chí chiến sỹ vệ binh ngăn tôi lại nói: Trung đoàn
trưởng rất mệt, mới chợp mắt. Một bàn tay vỗ nhẹ lưng tôi, ngoảnh lại tôi nhận
ra anh Kham trung đoàn phó. Anh Kham đưa tôi về hầm, sau khi báo cáo với anh
tình hình của tiểu đoàn và đề xuất xin lực lượng trung đoàn hỗ trợ, anh Kham
nhìn tôi một lúc rồi chép miệng: Sáng ngày 12 nhận được tin thằng Thanh hy
sinh, đến 13 giờ thì nhận được tin báo về ông cũng chết nốt. Hai bữa nay mình đến
các bãi tập trung tử sỹ xem có thấy các ông không? Thật tội! Chúng tôi cùng
khóc. Rồi anh thở dài....., anh chun mũi, khịt khịt chỉ vào bộ quần áo tôi đang
mặc: Ông cởi ngay ra, tôi bảo chúng nó giặt hộ, thối lắm, không chịu được.
Nồi cơm
được bưng đến bốc khói thơm lựng, anh Kham bảo: Cơm nấu cho ông đó, ăn đi! Thức
ăn chỉ có mắm kem sền sệt. Tôi ngồi xuống ăn, ngon quá! Vét nốt cả những hột
cơm cuối cùng cũng chỉ lưng lửng bụng.
Đợi trời
tối, anh cử thêm một tổ trinh sát cùng tôi trở lại trận địa của tiểu đoàn.
Ngày
16/7: Đêm nay trời vẫn
mưa rả rích, Trung đoàn cử đồng chí Bùi Hồng - Trợ lý pháo binh; Hồ Bá Dỵ - Trợ
lý bảo vệ chỉ huy đội cáng thương vào giúp sức. Trời về khuya mưa thêm nặng hạt,
sương giăng đen kịt như bịt lối, đường đã dốc thêm lầy lội, trơn trượt. Tử sỹ
đã bốc mùi hôi thối, mỗi cáng phải từ 4-6 người vừa khênh vừa đẩy, vần, kéo ngã
dúi dụi, nước mưa từ võng cáng thi thể tử sỹ theo đòn khênh chảy vào mặt, vào cổ,
vào người nhớp nháp, hôi thối, muỗi rừng, sên vắt bâu vào cắn đốt; Tiếng chửi,
tiếng khóc thút thít, tiếng gậy đập bồm bộp ...., chạy tới giật chiếc gậy trên
tay đồng chí Bùi Hồng, tôi dằn giọng, không được đánh, nó mà làm sao thì lấy ai
khênh cáng? Bùi Hồng không nói gì (tháng 7/2009 gặp lại nhau, Hồng chỉ vào tôi
và nói với mấy người bạn của Hồng: lão này ngoa lắm, láo không chịu được! Tôi vẫn
không quên lần bị lão chửi!)
Ngày
17 tháng 7: Tối nay
mưa lạnh, lực lượng vào khá đông, đội của Bùi Hồng đưa nốt số tử sỹ tại khu vực
Sở chỉ huy. Đội của Tiểu đoàn do đồng chí Hồ Sỹ Hoa chỉ huy theo tôi vào hầm phẫu,
vị trí xuất phát xung phong. Khu vực này lại bị chần thêm những loạt pháo nên
đường vào cây cối thêm ngổn ngang gãy đổ. Rất may căn hầm không trúng thêm cối
pháo.
Sau khi
khênh hết số tử sỹ ở hầm phẫu, tôi lần theo mỏm núi tới 1 bờ ta luy, dưới mép
ta luy trong ánh sáng lờ mờ, trước mắt tôi một thân hình quấn băng trắng nằm
dài bất động, nhẹ nhàng tiếp cận, nghe tiếng thở khò khè, tôi khẽ hỏi: Ai? Thân
hình cựa quậy, tiếng khàn khàn: Trường đây! Trường thông tin 18 đây! Rồi òa lên
khóc. Lôi chiếc khăn mặt từ thắt lưng, bịt miệng Trường, tôi khẽ nói: Có địch.
Tiếng
khóc vẫn ục ục trong cổ họng Trường, tôi hỏi tiếp: Có thấy ai quanh đây nữa
không? Trường ngơ ngác lắc đầu. Hai chiến sỹ trinh sát dìu Trường ra ngoài. Tôi
tiếp tục lần theo bờ ruộng bậc thang, tới bụi lách gãy đổ, phía bên kia bụi
lách có tiếng động, nhẹ nhàng gạt đám lá, trước mắt tôi một cái đầu trọc đang
ngồi ngước mắt nhìn lên trời. Đặt nòng súng lên bờ vai tôi quát: Tên gì? Tiếng
trả lời khe khẽ: Sao đỏ! (mật khẩu trận đánh hỏi: Sao vàng; Đáp: Sao đỏ), rồi
kêu lên: Đích! Đích đột kích 1, C11 đây!. Hồ Sỹ Hoa, y tá Bảo chạy tới, hai đứa
dìu Đích chạy theo đoàn cáng thương rời khỏi trận địa.
Sương vẫn
dày đặc như bịt mất lối, quanh quẩn mãi 4 giờ sáng ngày 18 tháng 7 chúng
tôi mới ra đến ngôi nhà đầu bản Nậm Ngặt, đang cho bộ đội nghỉ lấy sức thì nghe
tiếng quát phía trước: Ngồi im, động đậy tao bắn! Một tiếng nói yếu ớt cất lên:
Bắn đi, bắn tau đi! Vượt lên, cúi xuống gạt nòng súng của chiến sỹ trinh sát,
trước mắt tôi một thằng người méo mó, máu me bùn đất, vừa nằm vừa ngồi, miệng
trệu trạo gốc mía non. Cúi xuống nhìn rõ hơn, tôi kêu lên mừng rỡ: Thằng Minh!
C trưởng C11.
Rồi tôi
gọi y tá: Trợ sức, tiêm trợ sức.
Mũi
tiêm được rút ra, thằng Minh ngả người rồi ngất xỉu.
Tôi lệnh:
Cho lên cáng, thật nhanh rồi đưa về phẫu trung đoàn.
Đoàn
cáng thương lại theo nhau lầm lũi bước đi lẫn vào màn sương đùng đục trong tiếng
mưa rơi lép bép...
Chiến tranh và người lính, gian khổ
và ác liệt, mất, còn, sống và chết, tất cả chỉ có lính chiến, trực tiếp tham gia chiến đấu tại mặt trận, còn sống dù thiếu hụt cái gì đó mới hiểu... Để mỗi khi nhớ lại, nhắc lại, từ
trong sâu thẳm tâm can, đã được dồn nén, trỗi dậy nghèn nghẹn nơi cổ họng, nước mắt trào
ra, sống mũi cay cay, thổn thức....Anh em ơi!!!