01/11/2026

Từ một đề thi cũ nghĩ chuyện học ngày xưa



 

Tình cờ gặp đề thi này trên net, thấy có nhiều điều thú vị và hay ho. Mình nhớ đến những đề thi Đình thời Nguyễn mà mình từng có dịp tham khảo, rồi có vài suy nghĩ.

Đề thi Tú tài II thời VNCH, môn Triết học, có hai phần: mười câu hỏi ngắn và một bài luận, thí sinh chọn một trong ba đề để làm. Thời gian làm bài là ba giờ.

Đọc qua, mình chú ý nhất đến phần luận. Chỉ ba đề, mỗi đề vài chữ hoặc một câu hỏi, nhưng muốn viết cho ra ngô ra khoai thì chắc chắn không thể chỉ học thuộc lòng sách vở.

Điều mình thấy thú vị là người ra đề không đưa sẵn một nhận định để học sinh giải thích, cũng không yêu cầu kể lại những điều đã học. Câu hỏi được đặt ra để người làm bài tự tìm đường đi, tự lập luận và bảo vệ cách hiểu của mình.

Dĩ nhiên, chỉ nhìn vào một đề thi thì chưa thể đánh giá toàn diện chương trình học hay chất lượng của cả một nền giáo dục. Nhưng riêng những câu hỏi này cũng đủ khiến người đọc dừng lại suy nghĩ.

Từ đề thi Tú tài II, mình nhớ đến thi Đình thời Nguyễn.

Hai kỳ thi thuộc hai thời đại rất khác nhau. Một bên là nền giáo dục Nho học, với kinh điển và thể văn sách; một bên là chương trình giáo dục hiện đại, trong đó có môn Triết học với những vấn đề về nhận thức, đạo đức và khoa học.

Thi Đình là kỳ thi cuối cùng trong hệ thống thi Tiến sĩ thời Nguyễn. Qua những bài văn sách, sĩ tử phải vận dụng kiến thức đã học để bàn luận những vấn đề được đặt ra, thể hiện cách nhìn nhận và năng lực lập luận của mình.

Còn ở đề thi Tú tài II đang nói đến, những câu hỏi triết học cũng đòi hỏi người học phải vượt khỏi việc ghi nhớ kiến thức, tự mình phân tích và đưa ra lời giải.

Không thể xem hai kỳ thi là tương đương, bởi mục đích, nội dung và vị trí của chúng trong hệ thống giáo dục là hoàn toàn khác nhau. Nhưng khi đặt những đề thi ấy cạnh nhau, mình vẫn nhận ra một điểm đáng chú ý: người học không chỉ cần biết những gì đã được dạy, mà còn phải biết sử dụng những điều ấy để suy nghĩ về một vấn đề cụ thể.

Có lẽ đây cũng là một trong những điều đáng quan tâm khi nhìn lại chuyện học và thi cử ngày xưa.

Một kỳ thi có thể kiểm tra trí nhớ, kiến thức, khả năng diễn đạt; nhưng với những câu hỏi mở, người làm bài còn phải biết suy xét, tìm mối liên hệ giữa các vấn đề và tự hình thành lập luận. Những điều ấy không phải lúc nào cũng có thể học thuộc lòng mà có được.

Tất nhiên, đề thi chỉ là một phần của câu chuyện giáo dục. Cách dạy, cách học, điều kiện học tập và nhiều yếu tố khác cũng góp phần tạo nên kết quả. Do vậy, mình không nghĩ có thể chỉ dựa vào một vài đề thi để kết luận nền giáo dục của thời đại nào tốt hơn thời đại nào.

Nhưng những tư liệu cũ vẫn có cái hay riêng. Đọc chúng, ta biết thêm người xưa đã học gì, phải trả lời những câu hỏi nào và từng được yêu cầu thể hiện năng lực của mình ra sao.

Một đề thi từ mấy chục năm trước, những bài văn sách từ hàng trăm năm trước, xét cho cùng, đều là những dấu vết của một thời. Có điều, đôi khi đọc lại, ta vẫn bắt gặp những câu hỏi chưa hề cũ.

Bởi chuyện học không chỉ là tích lũy kiến thức để vượt qua một kỳ thi. Điều quan trọng hơn có lẽ là sau những gì đã học, mỗi người có thể tự suy nghĩ, biết xem xét vấn đề từ nhiều phía và hình thành nhận định của riêng mình.

Chỉ vậy thôi, cũng thấy thú vị.


21/10/2026

Hà Nội phố - Bài thơ, bài hát...

Nhà thơ Phan Vũ (1926-2019)
 

Nhà thơ Phan Vũ viết "Em ơi! Hà Nội phố" năm 1972 trên căn gác nhỏ phố Hàng Bún, giữa những ngày Hà Nội chìm trong mưa bom B52.

Bài thơ đầy đủ của Phan Vũ gồm 25 khổ, hơn 400 câu, được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành bài hát cùng tên, nổi tiếng từ cuối những năm 80 thế kỷ trước.

 

HÀ NỘI PHỐ

 

Chương I

1.

Em ơi! Hà Nội phố!

Ta còn em mùi hoàng lan,

Còn em hoa sữa.

Tiếng giày gọi đường khuya,

Thang gác cọt kẹt thời gian,

Thân gỗ…

Ta còn em màu xanh thật đêm,

Ngôi sao lẻ

Xào xạc chùm cây gió.

Chiếc lá lạc vào căn xép nhỏ,

Lá thư quên địa chỉ.

Quay về…

2.

Ta còn em một gốc cây,

Một cột đèn,

Ai đó chờ ai?

Tóc cắt ngang xoa xõa bờ vai…

Ta còn em một ngã ba

Vội vã,

Chiếc khăn quàng tím đỏ

Thoáng qua.

Khuôn mặt chưa quen

Bỗng xôn xao nỗi khổ…

Mỗi góc phố

Một trang tình sử…

3.

Ta còn em con đường vắng

Rì rào cơn mưa nhỏ.

Trên vòm cao

Đổ xuống chuông hồi.

Nhà thờ Cửa Bắc,

Tan chiều lễ

Kinh cầu còn mãi ngân nga…

4.

Ta còn em đôi mắt buồn

Dõi cánh chim xa.

Tháng năm dừng lại

Một ngôi nhà.

Ngã Trương Chi ôm ghita,

Từng đêm

Hóa đá…

Ta còn em chuyến tàu đêm

Về muộn

Qua cầu,

Một người nào lạc giữa sân ga…

Chương II

5.

Em ơi! Hà Nội phố!

Ta còn em những hố sâu

Trước cửa,

Cơn mưa đầy,

Chiếc thuyền giấy lang thang

Không bến đỗ…

Ta còn em quả bóng lăn

Một mình trên sân cỏ.

Thằng bé thẫn thờ.

Tuổi thơ qua cuộc chơi

Vội vã…

Ta còn em cánh cửa sắt

Lâu ngày không mở.

Nhà ai?

Qua đó bâng khuâng

Nhớ tuổi học trò…

6.

Ta còn em giàn thiên lý,

Năm xưa

Thơm mùi hò hẹn

Cuộc tình đầu ngọt lịm.

Những nụ hôn xanh ngắt trên cành…

Ta còn em chuỗi cười vừa dứt,

Nắng chiều vàng ngọn cỏ

Vườn hoang

Ngày cũ vui tàn theo mùa hạ…

Ta còn em tiếng ghita

Bập bùng

Tự sự

Châm lửa điếu thuốc cuối cùng

Xập xòa

Kỷ niệm

Đêm kinh kỳ một thuở

Xanh lơ…

7.

Ta còn em chiếc đồng hồ quả lắc

Già nua,

Đếm thời gian

Theo nhịp đong đưa.

Trước ngơ phố

Sót cây hoa gạo.

Buổi chợ chiều họp giữa kinh đô…

8.

Ta còn em những ngọn đèn mờ.

Trên nóc phố,

Mùa trăng không tỏ.

Tiếng rao đêm

Lạc giọng

Thờ ơ…

Ta còn em bảy nốt cù cưa,

Lão Mozart hàng xóm

Từng đêm quên ngủ.

Cô gái mặc áo đỏ Venise

Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ

Những mảnh vỡ trên thềm

Beethoven và Sonate Ánh Trăng

Nốt nhạc thiên tài bay lả tả,

Một kiếp người,

Một phím đàn long…

9.

Ta còn em khuya phố,

Mênh mông,

Vùng sáng nhỏ.

Bà quán ê a chuyện nàng Kiều.

Rượu làng Vân lung linh men ngọt.

Mắt cô nàng lúng liếng đong đưa,

Những chàng trai say suốt cả mùa…

10.

Ta còn em tiếng hằng ngày

Vang âm đường phố.

Tia hồ quang chớp xanh.

Toa xe điện cuối ngày,

Người soát vé

Áo bành tô cũ nát…

Lanh canh! Lanh canh!

Tiếng chuông reo hay lời kêu khổ?

Bó gạo, mớ rau,

Mẹ về buổi chợ.

Lanh canh! Lanh canh!

Lá bánh, củ khoai,

Đàn con trên bến đợi

Cuối ngày…

Chương III

11.

Em ơi! Hà Nội phố!

Ta còn em con đê lộng gió,

Dòng sông chảy mang theo hình phố,

Cô gái dựa lưng bên gốc me già.

Ngọn đèn đường lặng thinh

Soi bờ đá…

Ta còn em một con tàu

Giã biệt bến sông.

Mảnh trăng vỡ

Tiễn người bỏ xứ.

Dãy phố buồn…

Nghìn năm mắt nhớ…

12.

Ta còn em ráng đỏ chiều hôm,

Đôi chim khuyên gọi nhau trong bụi cỏ.

Đôi guốc bỏ quên bên ghế đá.

Gã đầu trần đi ngược trời mưa…

Ta còn em con đường tên cũ

Cổ Ngư,

Cành phượng vĩ la đà.

Chiều phai nắng,

Bông hoa muộn in hình ngọn lửa…

Ta còn em chiếc lá rụng

Khởi đầu nguồn gió.

Lao xao con sóng biếc

Gió Tây Hồ.

Hoàng hôn xa đến tự bao giờ?

Những bước chân tìm nhau

Rất vội,

Tiếng thì thầm sớm hôm buổi tối,

Cuộc tình hờ bỗng chốc nghiêm trang…

13.

Ta còn em ngọn gió Nghi Tàm

Thoáng mùi sen nở muộn.

Gió Nhật Tân

Gợi

Mùa hoa năm ấy

Cánh đào phai…

14.

Ta còn em chiếc lá bàng đầu tiên

Nhuộm đỏ.

Cô gái gặp nắng hanh

Chợt hồng đôi má.

Cơn mưa nào đi nhanh qua phố,

Một chút xanh hơn,

Trời Hà Nội hôm qua…

Ta còn em cô hàng hoa

Gánh mùa thu qua cổng chợ.

Những chùm hoa tím

Ngát mùa thu…

Chương IV

15.

Em ơi! Hà Nội phố!

Ta còn em một Hàng Đào,

Không bán đào.

Một Hàng Bạc,

Không còn thợ bạc.

Đường Trường Thi,

Không chõng, không lều

Không ông nghè bái tổ vinh quy…

Ta còn em tiếng gọi trong đêm,

Người đi xa trở về.

Căn nhà không biển số.

Ngày đi mỏi mòn nỗi nhớ.

Ngày về phố cũ quên tên…

16.

Ta còn em chiếc xe hoa

Qua hàng liễu rủ,

Giỏ phong lan,

Điệp vàng rực rỡ.

Cánh tay trần trên gác cao khép cửa.

Những gót son dập dìu đại lộ.

Bờ môi ai đậm đỏ bích đào…

Ta còn em tà áo nhung huyết dụ.

Đất nghìn năm còn măi dáng kiêu sa,

Phường cũ lưu danh người đẹp lụa.

Ngõ phố nào in dấu hài hoa…?

17.

Ta còn em đường lượn mái cong

Ngôi chùa cổ.

Năm tháng buồn xô lệch ngói âm dương.

Ai đó ngồi bên gốc đại,

Chợt quên ai kia bên đường đứng đợi.

Cuộc đời, có lẽ nào,

Là một thoáng bâng quơ…

Ta còn em những cuộc tình

Như một bài thơ.

Những nỗi đau gặm mòn phận số.

Nhật ký sang trang

Ghi thêm nỗi khổ…

18.

Ta còn em đống kim ngân

Đổ đầy Hàng Mă.

Ngựa, xe, võng, lọng,

Những hình nhân nuối tiếc vàng son.

Khi phố phường là miền loạn gió

Làm sao tìm được mớ tro than…?

19.

Ta còn em nóc phố

Lô xô,

Màu ngói cũ

Ngôi nhà còn tiếng khóc oa oa.

Con đường đá lát bao niên kỷ?

Qua sông nhớ Mẹ tuổi già…

Chương V

20.

Em ơi! Hà Nội phố!

Ta còn em mảnh đại bác

Ghim trên thành cũ.

Một thời thịnh,

Một thời suy,

Hưng vong lẽ thường.

Người qua đó,

Hững hờ bài học sử…

Ta còn em dãy bia đá

Nhân hình hội tụ.

Rêu phong gìn giữ nét tài hoa.

Ly rượu đầy xin rót cúng Cha.

Nghìn lạy cúi đầu thương đất Tổ.

Bến nước nào đă neo thuyền ngự?

Đám mây nào in bóng rồng bay…?

21.

Ta còn em tháng Chạp,

Những hàng cây óng ả sợi hồng

Tháng Chạp,

Trên giường trải chiếu hoa

Tháng Chạp,

Mùi hương dài theo phố.

Một tháng Chạp

Mẹ

Nửa đêm thức

Hóa vàng…

Chương VI

22.

Em ơi! Hà Nội phố!

Ta còn em năm cửa ô

Năm cửa gió

Cơn bão thường niên qua đó

Ba mươi sáu phố,

Bao nhiêu mảnh vỡ?

Ta còn em một màu xanh thời gian.

Một màu xám hư vô,

Chợt nhòe,

Chợt hiện.

Chợt lung linh ngọn nến,

Chợt mong manh

Một dáng,

Một hình,

Nhợt nhạt vàng son,

Đậm đầy cay đắng…

23.

Ta còn em những ngõ cụt bất ngờ,

Ô cửa ngẩn ngơ,

Ngôi nhà không người ở,

Khung trời của nỗi buồn

Vô cớ…

Người nghệ sĩ lang thang

Hoài,

Trên phố,

Bơ vơ

Không nhớ nổi con đường.

Tha hương ngay trước cổng nhà Mẹ Cha…

24.

Ta còn em những giọt sương,

Nhòe nhòe bóng điện.

Mặt nước Hồ Gươm,

Một đêm trở lạnh.

Tháp Rùa ngả bóng lung linh.

Cánh nhạn chao nghiêng,

Chiều cuối

Người ra đi mang theo buốt giá,

Áo choàng không ấm thân gầy,

Cầm bằng như cánh chim bay…

Chương VII

25.

Em ơi! Hà Nội phố!

Ta còn em cây bàng

Mồ côi mùa đông.

Ta còn em nóc phố

Mồ côi mùa đông.

Ta còn em mảnh trăng

Mồ côi mùa đông…

Ai đi xa thêm nhớ

Da diết… Hà Nội ơi!