11/02/2026

Cái Tôi Và Cái Chợ

Có sự đóng góp của ChatGPT

 

 

Tranh do ChatGPT tạo

 

Tôi quen nó trong một buổi cà phê vỉa hè, cũng lâu rồi, giờ nó lếch thếch ở nơi nào tôi cũng chả hay vì không thấy thấy nó chat. Người Croatia, tên Marko Vuković, tên nghe như cầu thủ bóng đá hạng hai nhưng mặt thì lúc nào cũng vênh như giáo sư kinh tế học.

Nó bảo:

– Tao sang Việt Nam xem kiếm tiền có dễ không.

Tôi bảo:

– Việc của mày liên quan gì đến tao?

Nó nhún vai:

– Tao gốc Do Thái nhưng đek nhận. Chỉ có điều ngoại ngữ tao tiếp thu hơi nhanh. Sang đây ba tháng, giờ tao ra quán nước bàn chuyện vi mô, vĩ mô như đúng rồi, mấy anh xe ôm tít lắm.

Tôi cười:

– Bố phét. Ở quán nước người ta bàn từ lãi suất đến số phận đội tuyển quốc gia, mày theo nổi à?

Nó hất tóc:

– Easy.

Tôi đặt cái bẫy rất nhân đạo:

– Tao đưa mày 50 nghìn. Lên chợ Ngã Tư Sở mua cái áo phông. Phải mặc cả gắt vào. Mua bằng tiền mày, nhưng nếu mọi thứ thuận lợi, không thiệt hại đến thân thể và tinh thần, tao đưa thêm 500 nghìn. Nếu ngược lại, mày phải kể hết những gì xảy ra.

Marko toét miệng:

– Deal.

Rồi nó phắn.

Sau này nó kể lại, ban đầu mọi thứ rất ổn. Nó đi bộ từ Đống Đa lên Ngã Tư Sở, vừa đi vừa lẩm bẩm mấy câu tiếng Việt tự học:

“Bao nhiêu tiền?”

“Đắt quá!”

“Giảm đi chị ơi!”

Đến cổng chợ, nó đứng khựng lại. Chợ không phải siêu thị. Chợ là một thứ sinh vật sống. Nó thở, nó ồn, nó chen lấn, nó có mùi của mồ hôi, vải vóc, thịt cá và tiếng rao.

Marko hít một hơi thật sâu. Nó bước vào như nhà thám hiểm bước vào rừng Amazon.

Quầy áo phông đầu tiên.

– Bao nhiêu tiền cái này?

– 120 nghìn.

Nó lập tức nhớ chiến lược mặc cả mà nó đọc trên mạng:

“Always offer half.”

– 60 nghìn!

Chị bán hàng nhìn nó từ đầu đến chân.

– Tây mà mặc cả ác vậy em?

Marko thấy tim hơi chùng xuống. Nhưng nó cố:

– Đắt quá. 70 thôi.

Chị cười mỉm.

– Thôi đi chỗ khác.

Và thế là Marko bị đá văng ra khỏi vòng đàm phán ngay hiệp một. Quầy thứ hai. Nó tự tin hơn, nói tiếng Việt tròn vành hơn:

– Chị ơi, cái này bao nhiêu?

– 100 nghìn.

– 50 nghìn!

Chị bán hàng tròn mắt:

– Em tưởng đây là chợ trời sao?

Mấy người xung quanh cười ồ. Một bà đứng cạnh góp vui:

– Tây mà trả giá như dân buôn đất.

Marko bắt đầu nhận ra: đây không chỉ là giao dịch thương mại. Đây là đấu trường danh dự. Nó cố thêm vài quầy nữa. Có nơi cười xòa, có nơi lắc đầu, có nơi bảo:

– Thôi em ơi, chị bán lỗ vốn rồi.

Cuối cùng, sau một giờ, nó mua được một cái áo với giá 75 nghìn. Không phải 50 nghìn như kỳ vọng. Nhưng nó kiệt sức tinh thần.

Trưa đó, tôi đang ngồi quán, ăn cơm thì cửa mở đánh “cạch”. Marko lếch thếch vào.

Áo phông mới mặc trên người, nhưng mặt và thân vặn vẹo như người vừa đi qua chiến trường. Nó chỉ vào tôi:

– Mày á… đểu. Mày đúng là dân Việt gốc… quá lưa manh!

Tôi bật cười:

– Sao? Bị chém à?

Nó ngồi phịch xuống.

– Không ai chém tao cả. Nhưng tao hiểu ra một chuyện.

Tôi rót cho nó cốc nước.Nó nói chậm lại:

– Ở Croatia, mặc cả là con số. Ở đây, mặc cả là tâm lý. Là đọc ánh mắt. Là biết lúc nào nên cười, lúc nào nên rút. Tao cứ nghĩ giỏi ngoại ngữ là đủ. Không. Văn hóa mới là thứ khó.

Tôi gật gù:

– Thế thân thể có thiệt hại không?

– Không.

– Tinh thần?

Nó im lặng ba giây.

– Có. Tao bị tổn thương cái tôi.

Tôi cười phá lên.

– Thế kể tiếp đi, tao nghe rồi sẽ đưa mày 500 nghìn, còn bữa này tao mời, được chứ.

Nó ngả lưng ra ghế:

– Tao lang thang thêm một vòng chợ. Thấy một bà cụ bán rau. Không mặc cả. Tao trả đúng giá. Bà cười với tao. Lúc đó tao hiểu: kiếm tiền ở Việt Nam có thể dễ. Nhưng để được người ta coi là “người của mình” thì khó hơn nhiều.

Tôi im một chút. Rồi đưa nó 500 nghìn.

– Vì mày không bị làm sao và vì mày học được bài học.

Marko cầm tiền, cười:

– Tao ở lại thêm một năm.

– Làm gì?

– Học mặc cả… và học làm người Việt.

Tôi nhìn cái áo nó mua may hơi lệch vai. Tôi nói:

– Lần sau tao nâng mức cược lên rồi mày đi chợ Đồng Xuân mua hàng nhé.

Nó tái mặt.

Câu chuyện kết thúc ở đó. Nhưng mỗi lần đi ngang Ngã Tư Sở, tôi vẫn nhớ tới thằng Marko, kẻ từng nghĩ ba tháng là đủ để hiểu một đất nước.

Ở Việt Nam, người ta có thể học tiếng nhanh. Nhưng để hiểu được cái cười trong lúc mặc cả  thì cần nhiều hơn ba tháng.

Cũng là câu chuyện cười thôi nhỉ?

10/02/2026

Tranh Tết Hà Nội xưa

 


Bức tranh Hàng Trống do Phạm Đức Sĩ sưu tập

 

Là thị dân, Tết của tôi không có ký ức gắn với nông thôn. Tôi không được chứng kiến cảnh bà con ở quê quét lại vôi tường, thay đôi liễn mới, hay treo tranh Tết sau một mùa vụ khép lại.  

Những gì tôi biết về Tết là qua phố, qua nhà, qua những thứ treo trên tường nó lặng lẽ mà bền bỉ.

Có một thời gian, tôi sống ở vùng cao, giữa cộng đồng người dân tộc thiểu số. Ở đó, Tết không có tranh như ta thường hiểu. Người ta trang hoàng bằng giấy: giấy xanh, giấy trắng, giấy đỏ, giấy vàng. Những tờ giấy mỏng, viết chữ Hán hoặc ký hiệu cổ, được dán từ bàn thờ, vách nhà, cột gỗ, cho đến ngoài sân, cổng và cả khu vườn. Như thể Tết ở đó không nằm trong hình ảnh, mà nằm trong lời cầu và niềm tin.

Hà Nội thì khác.

Ít nhất là trong ký ức của tôi, Hà Nội những năm 1980–1990 trở về trước, Tết hiện ra rất rõ trên tường nhà. Không cần hỏi cũng biết: tranh Hàng Trống. Treo ở gian giữa, nơi trang trọng nhất, nơi người ta tiếp khách đầu năm, thắp nén hương đầu tiên, nhấp chén trà, nếm hạt mứt sen, mứt bí hay miếng bánh cốm cùng nhau cung chúc Tân Xuân.

Không ồn ào. Không phô trương. Nhưng hễ bước vào nhà là thấy Tết. Nhất là đôi tranh Lý ngư vọng nguyệt. Cá chép nhìn trăng với khát vọng năm mới vươn lên hơn năm trước.

Treo tranh ngày Tết, người Hà Nội xưa không hẳn mong giàu sang rực rỡ, mà mong yên ổn, thăng tiến, và thanh sạch.

Tranh Tết ở Hà Nội không kể chuyện mùa màng như tranh Đông Hồ, cũng không thuần là bùa chú như giấy Tết vùng cao. Nó đứng ở khoảng giữa: vừa thờ, vừa chơi; vừa lễ, vừa mỹ. Đó là cái Tết của phố thị nhưng vẫn cần một khoảng lặng để nhìn lại mình.

Ngoài tranh, Tết Hà Nội xưa còn có chữ.

Chữ xin từ ông đồ, viết trên giấy đỏ, treo hai bên cột, trên xà nhà, hoặc dán cạnh bàn thờ. Không cần cầu kỳ, chỉ vài nét mực đen, nhưng treo lên là thấy Tết đã về. Chữ ấy không chỉ để đọc, mà để giữ nếp: giữ lời răn trong nhà, giữ điều mong ước cho cả năm.

Có nhà xin chữ Phúc, chữ Lộc, chữ Thọ; có nhà xin câu đối: nói về hiếu – lễ, về học – làm, về yên ấm trong gia phong. Câu đối đỏ đứng bên tranh Hàng Trống, chữ và hình nương nhau, làm nên cái Tết rất riêng của Hà Nội: Tết của lễ nghĩa và cái đẹp.

Nếu tranh treo để ngắm, thì câu đối treo để nhớ. Nhớ điều nên giữ, điều nên làm, và điều nên tránh khi bước sang một năm mới.

Rồi thời gian trôi đi. Nhà cửa thay đổi. Phố xá đổi nghề. Tranh Hàng Trống dần biến mất khỏi những bức tường ngày Tết. Người ta treo lịch, treo ảnh in sẵn, rồi sau nữa là không treo gì cả mà trưng những thứ khác.

Tết vẫn đến, vẫn đủ đầy, nhưng hình như thiếu đi một lớp ký ức treo lên được, nhìn thấy được.

Có thể vì thế mà hôm nay, khi nhắc đến tranh Tết, nhiều người vẫn nhớ Đông Hồ như một di sản, nhưng lại nhớ Hàng Trống như một hoài niệm. Một thứ đã từng rất quen với Hà Nội, đến mức khi mất đi, người ta không kịp gọi tên nỗi nhớ của mình.

Với tôi, tranh Tết không chỉ là vật trang trí. Nó là cách mỗi cộng đồng nói với mùa xuân theo cách riêng của mình:  Nông thôn nói bằng tiếng cười dân gian; vùng cao nói bằng giấy và chữ, gửi gắm niềm tin; thì Hà Nội xưa nói bằng tranh, bằng cái đẹp lặng lẽ treo trên tường.

Và có lẽ, chừng nào còn người nhớ, còn người viết, còn người treo lại một bức tranh cũ mỗi độ Tết về, thì tranh Tết dưới dạng này hay khác vẫn chưa thật sự mất.

Âu cũng chỉ là viết về miền xưa vậy.