Vương Hồng
Sển (1902 - 1996)
Tôi giữ nguyên bản của Ngài. Đây là trích trong loạt bài Ngài đã viết về ẩm thực ở Saigon.
Người
nào, năm nay 1985, khi đi đường Võ Di Nguy, trước khi quẹo qua đường ở bên hông
Nha Ngân khố ngày xưa, chưa tới bốn năm căn gì đó, gọi ty thuế vụ của cái chế độ
tiêu tùng ông Thiệu, nơi bên phố tay trái, có một căn lụp xụp, chủ nó đã dông mất
từ lâu nhưng cảnh nhà không đổi, vẫn cũ xì cũ xọp, ban đêm đóng vài miếng ván ọp
ẹp, lối ra vào tối gài bằng mảnh cửa thông xám đen vì lâu năm, nay người chủ mới
lại ở, vẫn để y không đổi, người khách qua đường tôi nói trên đây, nào biết căn
nhà bề ngoài coi xập xệ này, lại là nơi khách phong lưu trước đây chiều chiều
hay sáng sáng, vẫn tấp nập nơi đây và giành nhau từng tô cháo vừa ngon, vừa bổ
vừa rẻ tiền.
Tôi muốn
nói tô cháo cá Chợ Cũ, danh bất hư truyền, từ ngày tôi lên học (1919), đến ngày
dẹp tiệm (1975), đã cha truyền con nối, suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ
không phải chơi, vì trước khi tôi lên đây ăn học, thì quán kia đã có vẫn y một
chỗ, vẫn không thay đổi mặt tiền bề ngoài, và món cháo, hương vị vẫn không đổi
và vẫn cung phụng cho khách kén ăn trải trăm năm danh tiếng.
Tôi đã
biết chủ của cái quán ấy, từ một ông già Quảng Đông, ốm cao nhưng lưng thẳng
như chữ I, đứng nấu từng tô cháo cho mọi người, qua thằng chệc con chủ tiệm, vần
đứng bán làm đầu bếp nấu cháo như cha, vẫn áo thun trắng thật sạch, cụt tay, vẫn
ốm và cao như ông già Quảng lỏng khỏng không khác, kế tiếp đến thằng Tàu, cháu
nội ông già “cháo cá”, cũng vẫn y như một: áo thun, ốm và lưng ngay chò bất khuất,
xuống đến thằng chắt nội, ba mươi cái xuân, một cây lưng thẳng, một tay cầm muỗng
cán dài, một tay cầm tô hứng cháo nóng sôi sục sục, không một giọt rớt rơi,
khách nào muốn ăn sang, nó đập cái thụp, bỏ vào tô một hột gà tươi đỏ rói, tiếp
đến thằng chít nội thửa kế, vẫn áo thun, vẫn ốm thon thon, kế đến tháng tư năm
1975, nồi cháo không ai chụm lửa, gia quyến anh Ba Tàu bán cháo đã rút lui về xứ,
bỏ lại đây bao nhiêu khách đô thành đã mất một món ăn không thay thế, và tô
cháo, còn chăng là trong bài tưởng niệm vô duyên này.
Nhớ ai
như nhớ thuốc lào, mới chôn điếu trước lại đào điếu sau (muốn hát “điếu trước
điếu sau” hay hát “điếu xuống điếu lên” chi cũng mặc, và đó là câu hát xưa
ngoài nớ, nay có thể nhại lại, rằng: “Nhớ ai như nhớ tô cháo cá năm nào, sáu xu
(0$06) một chén, ngọt ngào ăn thêm, ăn thêm, muốn ăn thêm, thì hãy hô to:
“thiêm xức” tức đã nói được hai tiếng Quảng: thiêm (thêm lên) và “xức” là thực,
ôi có khó gì tiếng Quảng Đông ấy. Khi nghe hai tiếng “thiểm xức” thì bỗng chốc
có tô khác bưng lại, hơi lên nghi ngút, ăn chẳng thấy no, mà no làm sao được vì
lỏng bỏng toàn nước ngọt cá thịt, xương heo và thịt tôm hùm làm bổ, nói rằng
cháo Quảng, mà mò không thấy một hột gạo, họ nấu toàn bằng tấm mắn, nói đó là tấm
cũng chưa được đúng, cháo Quảng rõ là hồ sệt sệt, người mới mạnh dùng không
trúng thực người mệt mỏi ăn vào nhẹ bụng mau tiêu, tô cháo cá Chợ Cũ, quả là một
tô thuốc tráng thần, mất tô cháo là mất đi một món ăn ngon bổ khỏe, chưa có món
rẻ tiền nào thay thế.
Một tô
“bột gạo nát nấu thật nhừ”, thả vào một mớ đu đủ ngâm nước cam thảo, gừng xắt vụn,
ít lá hành, ít bụi tiêu cà, đĩa cá tươi để riêng đặt trên ăn bàn chờ khách tự
tay cho cá vào tô, muốn ăn tái hay thật chín tuỳ sở thích, giá một cắc bạc
(0$10) thời đó; khách nào muốn ăn thêm cá, gọi thêm một đĩa tính bốn xu (0$04),
kẻ nào muốn ăn sang, gọi một tô cá trộn gỏi riêng, giá mười xu (0$10), muốn dằn
bụng thật no, kêu thêm bánh “dầu cha quảy”, mỗi cái bánh một xu (0$01), vị chi
xài chưa tới một cắc ngoài, mà vừa xong một bữa vĩ vèo, vừa nhẹ nhàng thơ thới,
lại thêm bổ khỏe.
Thật là
giang san không đổi! Viết đến đây, nhớ câu “Giang
san tận thuộc hoàng trào Tống, mãi thủ Hoa sơn lão đạo manh” 1 không biết
thế đúng hay chăng nguyên văn của ông Trần Đoàn, chỉ nhớ đó là tích vua Tống
sai đòi thuế, Trần Đoàn, xưng là lão đạo manh, trả lời hòn Hoa Sơn, năm trước
vua Khuông Dẫn, đánh cờ thua, đã ký bán núi cho ông dứt khoát lâu rồi!
Sướng vậy
thay thời thái bình, phong lưu vừa tầm tay với tính từ xu, từ cắc. Nhưng quên
nói quán xệch xạc, lôi thôi, nền lót gạch Tàu đỏ bụi giày đóng từng lớp dày ít
năng chà rửa, nhưng vẫn thật sạch, không xả rác, bàn ghế bằng cây thông thao
lao đã lòn cạch vì lâu năm, quán tuy xấu bề ngoài, thượng khách toàn là lựa chọn,
hoa khôi công tử, không kén mặt, miễn ngon là được, một hôm tôi đưa vợ chồng
ông Đoàn Quân Tấn cùng đi với phu nhơn là chị Nguyễn Thanh Long, đến quán thưởng
thức món cháo cá, ông là cử nhân Pháp Sorbonne, chuyên về văn phạm và có tiếng
là khó tánh, bà là bằng cấp đầy mình,, giỏi Pháp văn, nói tiếng Anh như lặt
rau, kể về tánh khó và kỹ, không thua chồng, sức bực bánh mì mua cho chó ăn mà
bà vẫn lấy bàn chải chải tro bụi rồi mới dâng cho cẩu xức, hai ông bà vào quán,
dùng xong bữa, đưa nhau ra đường, ông phê bình: “Chớ chi quán biết dọn dẹp
trang trí, gạch bông trắng trẻo, bàn ghế tân thời, thì hay biết mấy!”. Chị Long
đi giữa, tôi cung kính nói với: “Thưa bộ trưởng, nếu như vậy, thì đã hết xính
xái Ba Tàu!” (Viết 19-10-1983).
Cùng một
loại với cháo này, trong Chợ Lớn, đường Thuỷ binh cũ đêm khuya hay sáng tinh
sương mới bán, là gánh “bạc của chúc” của mấy xẩm già gánh bán, cháo sơ sài, mỗi
chén hai xu (0$02), vài ba “bạch quá” thả lỏng lẻo trong chén cháo trắng “bột hồ”,
không thêm thắt, không mời mọc, khách đứng húp hay ngồi xề bên lề xẩm ta không
cần biết, cháo thanh đạm nêm chút muối vào măn mẳn, cắn bạch quả bùi bùi, bao
nhiêu mệt nhọc canh bài, buổi trác táng với mấy con phì phà chảy (tỳ bà ca nhi)
đều tiêu tan, muốn bồi bổ thêm, thì đường Nguyễn Trãi, đường Đồng Khánh, qua khỏi
ngã tư đại lộ Tổng đốc Phương, có quán bán cháo Quảng Đông nấu với lòng heo,
đây là cháo thập cẩm có đủ bao tử, gan, dồi trường và phèo, bao nhiêu ấy chưa đủ
tẩm bổ khách làng chơi đàn đúm, lại còn thêm một hột gà tươi để lấy sức phung
phí từ đêm hôm, rõ là cháo Tàu, cháo Ngô, tướng dịch chữ của Pháp: “C est le
chao” (hỗn độn, hỗn mang), nếu dịch “đó là nồi cháo ngô” cũng nên thông qua và
cho là được được!