22/05/2026

Cháo cá chợ Cũ

 Vương Hồng Sển (1902 - 1996)

Tôi giữ nguyên bản của Ngài. Đây là trích trong loạt bài Ngài đã viết về ẩm thực ở Saigon. 

 


Người nào, năm nay 1985, khi đi đường Võ Di Nguy, trước khi quẹo qua đường ở bên hông Nha Ngân khố ngày xưa, chưa tới bốn năm căn gì đó, gọi ty thuế vụ của cái chế độ tiêu tùng ông Thiệu, nơi bên phố tay trái, có một căn lụp xụp, chủ nó đã dông mất từ lâu nhưng cảnh nhà không đổi, vẫn cũ xì cũ xọp, ban đêm đóng vài miếng ván ọp ẹp, lối ra vào tối gài bằng mảnh cửa thông xám đen vì lâu năm, nay người chủ mới lại ở, vẫn để y không đổi, người khách qua đường tôi nói trên đây, nào biết căn nhà bề ngoài coi xập xệ này, lại là nơi khách phong lưu trước đây chiều chiều hay sáng sáng, vẫn tấp nập nơi đây và giành nhau từng tô cháo vừa ngon, vừa bổ vừa rẻ tiền.

Tôi muốn nói tô cháo cá Chợ Cũ, danh bất hư truyền, từ ngày tôi lên học (1919), đến ngày dẹp tiệm (1975), đã cha truyền con nối, suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi, vì trước khi tôi lên đây ăn học, thì quán kia đã có vẫn y một chỗ, vẫn không thay đổi mặt tiền bề ngoài, và món cháo, hương vị vẫn không đổi và vẫn cung phụng cho khách kén ăn trải trăm năm danh tiếng.

Tôi đã biết chủ của cái quán ấy, từ một ông già Quảng Đông, ốm cao nhưng lưng thẳng như chữ I, đứng nấu từng tô cháo cho mọi người, qua thằng chệc con chủ tiệm, vần đứng bán làm đầu bếp nấu cháo như cha, vẫn áo thun trắng thật sạch, cụt tay, vẫn ốm và cao như ông già Quảng lỏng khỏng không khác, kế tiếp đến thằng Tàu, cháu nội ông già “cháo cá”, cũng vẫn y như một: áo thun, ốm và lưng ngay chò bất khuất, xuống đến thằng chắt nội, ba mươi cái xuân, một cây lưng thẳng, một tay cầm muỗng cán dài, một tay cầm tô hứng cháo nóng sôi sục sục, không một giọt rớt rơi, khách nào muốn ăn sang, nó đập cái thụp, bỏ vào tô một hột gà tươi đỏ rói, tiếp đến thằng chít nội thửa kế, vẫn áo thun, vẫn ốm thon thon, kế đến tháng tư năm 1975, nồi cháo không ai chụm lửa, gia quyến anh Ba Tàu bán cháo đã rút lui về xứ, bỏ lại đây bao nhiêu khách đô thành đã mất một món ăn không thay thế, và tô cháo, còn chăng là trong bài tưởng niệm vô duyên này.

Nhớ ai như nhớ thuốc lào, mới chôn điếu trước lại đào điếu sau (muốn hát “điếu trước điếu sau” hay hát “điếu xuống điếu lên” chi cũng mặc, và đó là câu hát xưa ngoài nớ, nay có thể nhại lại, rằng: “Nhớ ai như nhớ tô cháo cá năm nào, sáu xu (0$06) một chén, ngọt ngào ăn thêm, ăn thêm, muốn ăn thêm, thì hãy hô to: “thiêm xức” tức đã nói được hai tiếng Quảng: thiêm (thêm lên) và “xức” là thực, ôi có khó gì tiếng Quảng Đông ấy. Khi nghe hai tiếng “thiểm xức” thì bỗng chốc có tô khác bưng lại, hơi lên nghi ngút, ăn chẳng thấy no, mà no làm sao được vì lỏng bỏng toàn nước ngọt cá thịt, xương heo và thịt tôm hùm làm bổ, nói rằng cháo Quảng, mà mò không thấy một hột gạo, họ nấu toàn bằng tấm mắn, nói đó là tấm cũng chưa được đúng, cháo Quảng rõ là hồ sệt sệt, người mới mạnh dùng không trúng thực người mệt mỏi ăn vào nhẹ bụng mau tiêu, tô cháo cá Chợ Cũ, quả là một tô thuốc tráng thần, mất tô cháo là mất đi một món ăn ngon bổ khỏe, chưa có món rẻ tiền nào thay thế.

Một tô “bột gạo nát nấu thật nhừ”, thả vào một mớ đu đủ ngâm nước cam thảo, gừng xắt vụn, ít lá hành, ít bụi tiêu cà, đĩa cá tươi để riêng đặt trên ăn bàn chờ khách tự tay cho cá vào tô, muốn ăn tái hay thật chín tuỳ sở thích, giá một cắc bạc (0$10) thời đó; khách nào muốn ăn thêm cá, gọi thêm một đĩa tính bốn xu (0$04), kẻ nào muốn ăn sang, gọi một tô cá trộn gỏi riêng, giá mười xu (0$10), muốn dằn bụng thật no, kêu thêm bánh “dầu cha quảy”, mỗi cái bánh một xu (0$01), vị chi xài chưa tới một cắc ngoài, mà vừa xong một bữa vĩ vèo, vừa nhẹ nhàng thơ thới, lại thêm bổ khỏe.

Thật là giang san không đổi! Viết đến đây, nhớ câu “Giang san tận thuộc hoàng trào Tống, mãi thủ Hoa sơn lão đạo manh” 1 không biết thế đúng hay chăng nguyên văn của ông Trần Đoàn, chỉ nhớ đó là tích vua Tống sai đòi thuế, Trần Đoàn, xưng là lão đạo manh, trả lời hòn Hoa Sơn, năm trước vua Khuông Dẫn, đánh cờ thua, đã ký bán núi cho ông dứt khoát lâu rồi!

Sướng vậy thay thời thái bình, phong lưu vừa tầm tay với tính từ xu, từ cắc. Nhưng quên nói quán xệch xạc, lôi thôi, nền lót gạch Tàu đỏ bụi giày đóng từng lớp dày ít năng chà rửa, nhưng vẫn thật sạch, không xả rác, bàn ghế bằng cây thông thao lao đã lòn cạch vì lâu năm, quán tuy xấu bề ngoài, thượng khách toàn là lựa chọn, hoa khôi công tử, không kén mặt, miễn ngon là được, một hôm tôi đưa vợ chồng ông Đoàn Quân Tấn cùng đi với phu nhơn là chị Nguyễn Thanh Long, đến quán thưởng thức món cháo cá, ông là cử nhân Pháp Sorbonne, chuyên về văn phạm và có tiếng là khó tánh, bà là bằng cấp đầy mình,, giỏi Pháp văn, nói tiếng Anh như lặt rau, kể về tánh khó và kỹ, không thua chồng, sức bực bánh mì mua cho chó ăn mà bà vẫn lấy bàn chải chải tro bụi rồi mới dâng cho cẩu xức, hai ông bà vào quán, dùng xong bữa, đưa nhau ra đường, ông phê bình: “Chớ chi quán biết dọn dẹp trang trí, gạch bông trắng trẻo, bàn ghế tân thời, thì hay biết mấy!”. Chị Long đi giữa, tôi cung kính nói với: “Thưa bộ trưởng, nếu như vậy, thì đã hết xính xái Ba Tàu!” (Viết 19-10-1983).

Cùng một loại với cháo này, trong Chợ Lớn, đường Thuỷ binh cũ đêm khuya hay sáng tinh sương mới bán, là gánh “bạc của chúc” của mấy xẩm già gánh bán, cháo sơ sài, mỗi chén hai xu (0$02), vài ba “bạch quá” thả lỏng lẻo trong chén cháo trắng “bột hồ”, không thêm thắt, không mời mọc, khách đứng húp hay ngồi xề bên lề xẩm ta không cần biết, cháo thanh đạm nêm chút muối vào măn mẳn, cắn bạch quả bùi bùi, bao nhiêu mệt nhọc canh bài, buổi trác táng với mấy con phì phà chảy (tỳ bà ca nhi) đều tiêu tan, muốn bồi bổ thêm, thì đường Nguyễn Trãi, đường Đồng Khánh, qua khỏi ngã tư đại lộ Tổng đốc Phương, có quán bán cháo Quảng Đông nấu với lòng heo, đây là cháo thập cẩm có đủ bao tử, gan, dồi trường và phèo, bao nhiêu ấy chưa đủ tẩm bổ khách làng chơi đàn đúm, lại còn thêm một hột gà tươi để lấy sức phung phí từ đêm hôm, rõ là cháo Tàu, cháo Ngô, tướng dịch chữ của Pháp: “C est le chao” (hỗn độn, hỗn mang), nếu dịch “đó là nồi cháo ngô” cũng nên thông qua và cho là được được!


 

21/05/2026

Đừng để điểm số đẩy con vào tổn thương

 Một câu chuyện thấy trên net

  

Tranh do Gemini tạo

Giáo viên nói: Bây giờ, xin mời phụ huynh của học sinh xếp cuối lớp lên phát biểu.

Người bố bình tĩnh đứng lên và dõng dạc nói:

Cảm ơn giáo viên đã dùng cách bêu rếu như vậy để mời tôi lên.

Thứ nhất, con tôi có tên, không phải gọi là đội sổ.

Thứ hai, nếu một giáo viên có khả năng nâng cao thành tích của tất cả học sinh thì dù con tôi đứng cuối lớp, cũng không phải học sinh kém, càng không phải học sinh tệ nhất.

Thứ ba, con tôi chỉ là học chưa tốt, không phải người xấu xa.Điều quan trọng là sự động viên từ gia đình và thầy cô chứ không phải bị lấy làm ví dụ tiêu cực để đem ra bêu giễu.

Buổi họp phụ huynh sinh ra là để gia đình và nhà trường ngồi lại tìm cách giúp đứa trẻ tiến bộ, chứ không phải chỗ để giáo viên "bêu đầu" học sinh hay để các phụ huynh hơn thua nhau vài ba điểm số.

Đứa trẻ nào rồi cũng phải lớn lên và bước ra đời, và thứ bảo vệ chúng trước sóng gió không phải là tấm giấy khen học sinh giỏi, mà chính là sự thấu hiểu. 

Thưa Cô và các phụ huynh. 

Giáo dục một đứa trẻ thành người cần một chiếc kiềng ba chân vững chắc: Nhà trường truyền thụ tri thức và nhân cách, Gia đình là chỗ dựa yêu thương, và Xã hội tạo môi trường lành mạnh để bao bọc, rèn giũa.

Trân trọng. 


 

 

17/05/2026

Mặt nạ Nho gia và thuật sinh tồn nghìn năm

Minh Nhựt - Nghiên cứu LS 
 Tiêu đề nhờ bạn Gemini đặt hộ sau khi đọc bài.
 
 

Sắp xếp có chủ đích: Ghế của ông Trump được cố tình kê đệm thấp hơn để có lẽ "hạ thấp" chiều cao, ngầm xác lập vị thế chủ nhà cao hơn khách. Trong ngoại giao cấp cao, mọi chi tiết (từ cái ly, chỗ ngồi) đều có thể được tính toán tỉ mỉ. Việc Trung Quốc có ý đồ "lấy thế" là hoàn toàn có thể xảy ra. Tuy nhiên, việc gán ghép dáng ngồi mặc định của ông Trump thành chữ "Nhân" khép nép thì mang đậm tính tự huyễn hoặc và suy diễn văn hóa hơn là một thực tế chính trị. Đôi khi, một dáng ngồi đơn giản chỉ vì... người ta quen ngồi như thế!

Trong tâm thức dân Việt mình, thành ngữ "Thâm như Tàu" vốn dĩ mang một hàm ý kép. Chữ "thâm" ấy, ở một góc nhìn văn hóa, là sự thâm thúy, sâu sắc của một nền văn minh lâu đời. Nhưng thực tế và phổ biến hơn trong đời sống xã hội nó lại nghiêng về sự nham hiểm, khó lường, kiểu nhân vật "bằng mặt không bằng lòng" hay những kẻ ngụy quân tử. Tuy nhiên, nếu đặt hiện tượng này dưới cái nhìn của lịch sử và văn hóa, cái sự "thâm" ấy không phải là đặc tính bẩm sinh của người Trung Hoa, mà là kết quả của một quá trình thích nghi nghiệt ngã với một môi trường chính trị, xã hội khốc liệt kéo dài suốt hàng ngàn năm lịch sử của họ.

Để hiểu được gốc rễ của lối ứng xử này, trước hết phải nhìn vào công thức vận hành quyền lực của các triều đại phong kiến Trung Hoa, vốn được tóm gọn trong bốn chữ: "Ngoại Nho Nội Pháp". Ở bề nổi, giai cấp thống trị luôn dùng cái vỏ bọc Nho giáo để đề cao các giá trị đạo đức, nhân nghĩa, lễ trí tín, tạo ra một bộ mặt chính nghĩa hoàn hảo nhằm thu phục lòng người. Thế nhưng ở bề sâu, cốt lõi để giữ vững ngai vàng lại là tư tưởng Pháp gia của Hàn Phi Tử , nơi quyền lực vận hành bằng mưu mô, sự thao túng, thưởng phạt tàn nhẫn và nguyên tắc bảo mật thông tin tuyệt đối. Một bậc đế vương thực thụ là kẻ không bao giờ được phép để lộ ý định thật của mình. Sự cài cắm tinh vi giữa một đằng là lời nói hoa mỹ, một đằng là hành động thực dụng đã tạo ra một lối sống hai mặt sâu sắc. Những ai quen tư duy theo lối duy lý, minh bạch kiểu phương Tây khi bước vào thế giới này rất dễ bị lạc lối trong những ma trận tư duy tầng tầng lớp lớp.

Bi kịch đó không chỉ diễn ra ở chốn cung đình. Trung Quốc vốn là mảnh đất của những cuộc cát cứ, chiến tranh và thanh trừng nội bộ khốc liệt bậc nhất thế giới. Trong một bối cảnh mà "nay là hoàng đế, mai đã là tội nhân", việc bộc lộ thẳng thắn suy nghĩ cá nhân chẳng khác nào một hành vi tự sát. Muốn giữ được cái đầu trên vai, từ bậc đại thần cho đến người dân thường đều phải tự rèn luyện cho mình kỹ năng "Thành phủ thâm trầm", tức là giữ suy nghĩ kín kẽ như thành sâu tường cao, và đạt đến cảnh giới "Hỷ nộ bất hình ư sắc", tức là vui buồn tuyệt đối không lộ ra mặt. Sự thâm trầm ấy, suy cho cùng, là một vết sẹo sinh tồn được mài giũa qua áp lực của những thăng trầm lịch sử.

Khi mưu lược quân sự và tư duy sinh tồn thẩm thấu vào đời sống, nó định hình nên một nền văn hóa giao tiếp có "ngữ cảnh cao" ở mức cực đoan. Người ta hiếm khi nói thẳng, nói hết vào bản chất vấn đề. Ý nghĩa thực sự của một câu nói không nằm ở lớp nghĩa hiển ngôn của từ ngữ, mà ẩn sau tông giọng, cử chỉ, địa vị và cả những khoảng lặng không được nói ra. Đây cũng là quốc gia hiếm hoi mà các cuốn binh thư như Tôn Tử Binh Pháp lại trở thành sách gối đầu giường của mọi tầng lớp, từ người buôn bán nhỏ cho đến kẻ làm chính trị. Khi triết lý quân sự đã ngấm vào máu, những hành vi như giấu kín ý đồ, tạo nghi binh, hay thậm chí là "ném đá giấu tay" lại được xã hội nhìn nhận như biểu hiện của sự mưu trí, khôn ngoan, chứ không hẳn là một vết nhơ về đạo đức.

Ở góc độ đời sống thường nhật, xã hội Nho giáo luôn coi "Hòa" là giá trị tối cao. Để giữ được thể diện và sự yên ổn, con người bắt buộc phải vận hành theo cơ chế "hòa hợp bề mặt". Người Việt mình hay gọi đó là sự "thảo mai", nhưng trong hệ giá trị cũ, đó lại là biểu hiện của người có giáo dục, biết giữ "Lễ". Việc nói thẳng những suy nghĩ tiêu cực bị xem là ích kỷ và thô lỗ.

Hơn nữa, lối sống này còn có gốc rễ sâu xa, người dân Trung Hoa phải thường sống gắn bó cả đời với một cộng đồng cố định trong một không gian sinh tồn chật hẹp. Trong một cái làng mà ai cũng biết ai, việc nói thật một cách trần trụi sẽ tự tay đập vỡ các mối quan hệ sinh kế. Vì vậy, những lời nói đẹp lòng nhau chính là chiếc mặt nạ bảo hộ cần thiết, giúp ai cũng có đường lui và giữ cho cấu trúc xã hội không bị nổ tung vì các xung đột cá nhân. Trong thời đại toàn cầu hóa, sự hai mặt này thường khiến các doanh nghiệp phương Tây bị sốc khi thấy đối tác cứ gật đầu vâng dạ nhưng thực tế lại không hợp tác, bởi họ không hiểu rằng đó chỉ là sự va chạm giữa hai hệ thống giao tiếp hoàn toàn khác nhau.

Tuy nhiên, mặt trái của chiếc mặt nạ này là xu hướng "đạo đức hóa" mọi lợi ích. Khi các mối quan hệ xã hội, kinh tế hay quyền lực không được sòng phẳng bằng luật pháp mà lại bị ép phải che đậy bằng cái mác "tình nghĩa", "lòng trung thành", con người ta bắt buộc phải tìm đến sự ngụy biện và giả trá.

 Đến đây, ranh giới giữa sự "sâu sắc" và "thâm sâu" mới hiện ra rõ rệt nhất. Một người sâu sắc là người thấu hiểu lòng người để bao dung, biết quan sát để điều chỉnh hành vi nhằm tạo ra sự an toàn, dễ chịu cho đối phương. Ngược lại, một kẻ thâm sâu lại "đọc vị" người khác để nắm thóp và kiểm soát, họ dò tìm điểm yếu cảm xúc của đối phương để mưu lợi hoặc né tránh rủi ro cho riêng mình. Có lẽ vì thế mà trong tâm thức người Việt, chữ "thâm" của người Tàu không đơn thuần là sự uyên thâm của trí tuệ, mà luôn phảng phất một sắc thái tối tăm, hiểm góc của những mưu toan giấu kín.

Nói về nó, chữ Thâm là để ta biết và để ta hiểu sâu họ hơn, người Trung Quốc.

12/05/2026

Chân lý vốn vô ngôn

 

Tranh do Gemini tạo

 

Mình từng nhận ra, khi còn đứng dưới chân núi, người ta thường dành nhiều tâm sức để tranh luận xem lối đi nào mới là đúng nhất. Nhưng khi ta đã thực sự đến trên ngọn núi rồi, sự ồn ào ấy bỗng nhường chỗ cho một bầu trời tĩnh lặng và bao la duy nhất.

Thay vì đi tìm những lời hay ý đẹp của người khác để nói về cuộc sống, mình dùng chính trải nghiệm trong đời mình để minh chứng. Có lẽ, sự tỉnh táo nhất chính là không vội tin vào những gì mình chưa thực sự sống qua. Việc đơn độc ngẫm nghĩ đôi khi khiến mình cảm thấy lạc lõng, nhưng chính ở tầng sâu nhất của sự tĩnh lặng đó, mình lại thấy mình không hề cô đơn. mình cảm thấy gần gũi hơn với trí tuệ của Phật Thích Ca hay Lão Tử không phải qua sách vở, mà qua nhịp đập của sự sống và chạm vào những quy luật vĩnh hằng của vũ trụ.

Và khi ta thực sự sống trong nó, sự im lặng ấy lại mang một sức mạnh tự thân mà không ngôn từ nào diễn tả hết.

Chân lý, suy cho cùng, là điều để sống chứ không phải để nói.