Tranh do Gemini tạo
Có những điều trong lịch sử ta tưởng đã quen thuộc, nhưng khi đọc kỹ lại mới thấy bất ngờ. Với tôi, Nam Định từ lâu vẫn hiện lên như một vùng đất nông nghiệp trù phú và đất học nổi tiếng. Nhưng khi tìm hiểu thêm về lịch sử đầu thế kỷ XX, tôi nhận ra một diện mạo khác: Thành Nam từng là một trung tâm công nghiệp và thương mại khá sôi động của Bắc Kỳ, nơi đã xuất hiện một lớp thương nhân bản xứ đáng chú ý.
Điều này thật sự làm tôi tò mò, bởi lâu nay người ta vẫn thường nói người Việt quen với kinh tế tiểu nông, ít có truyền thống thương nghiệp lớn. Nhưng câu chuyện của Nam Định dường như cho thấy một lát cắt khác.
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khi người Pháp tổ chức lại bộ máy cai trị ở Bắc Kỳ, họ chọn Nam Định làm một trong những trung tâm kinh tế quan trọng. Thành phố này nằm giữa vùng lúa gạo phì nhiêu của đồng bằng sông Hồng, lại có hệ thống sông ngòi thuận tiện cho giao thông. Hàng hóa từ các vùng quê có thể theo sông ra biển, hoặc theo các tuyến đường mới mở để đến các đô thị khác. Nhờ vị trí đó, Nam Định dần trở thành một đầu mối giao thương của cả vùng.
Một bước ngoặt lớn là sự ra đời của nhà máy Sợi Nam Định, một trong những nhà máy công nghiệp lớn của Đông Dương thời bấy giờ. Hàng nghìn công nhân tập trung về đây làm việc, và xung quanh nhà máy dần hình thành những khu phố mới. Nơi có công nhân thì có quán ăn, cửa hàng, kho hàng, dịch vụ vận chuyển… Thành Nam bắt đầu mang dáng dấp của một thành phố công nghiệp – thương mại.
Trong không khí ấy, một lớp người mới dần xuất hiện: những thương nhân bản xứ. Nhiều người mở hiệu buôn nhỏ, làm đại lý cho các hãng hàng, buôn gạo, buôn vải hoặc cung cấp dịch vụ cho nhà máy. Từ những cửa hiệu ban đầu, một số gia đình tích lũy dần vốn liếng, mở thêm kho hàng, mở thêm hiệu buôn ở phố khác, thậm chí mở rộng mạng lưới sang các tỉnh lân cận. Họ có thể chưa phải là những “tư bản lớn”, nhưng rõ ràng một lớp doanh nhân Việt đã bắt đầu hình thành trong đời sống đô thị.
Những con phố buôn bán của Thành Nam thời ấy không phải chỉ là một hình dung chung chung. Chúng mang những cái tên rất cụ thể, gắn với từng nghề và từng mặt hàng. Người ta có thể bắt gặp phố Hàng Tiện, nơi buôn bán những đồ kim khí nhỏ; phố Hàng Sắt, Hàng Đồng, nơi tập trung các cửa hiệu đồ kim loại và dụng cụ; hay phố Hàng Thao, nơi nổi tiếng với các lò nhuộm vải. Hàng hóa từ các vùng quê quanh đồng bằng theo thuyền về bến sông rồi tỏa đi khắp các phố ấy, tạo nên một nhịp buôn bán khá sầm uất. Cùng với những phố “Hàng” mang dáng dấp buôn bán cổ truyền, các đại lộ mới do người Pháp mở ra như đường Paul Bert, nay là Trần Hưng Đạo, Nam Định cũng nhanh chóng trở thành khu thương mại nhộn nhịp của thành phố.
Từ những phố buôn bán ấy, nhiều gia đình thương nhân bản xứ dần tạo dựng được vị thế riêng trong đời sống đô thị. Tư liệu địa phương còn nhắc đến một số nhà buôn người Việt mở hiệu vải, hiệu gạo, hiệu kim khí dọc các trục phố buôn bán của thành phố...
Điển hình cho sự nhạy bén ấy là nhà buôn Nghĩa Hưng ở phố Hàng Thao. Cụ đã khéo léo kết nối nguồn sợi từ nhà máy công nghiệp với kỹ thuật nhuộm truyền thống để tạo ra những mặt hàng nội hóa đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Đó là một cách thích nghi đầy bản lĩnh: dùng công nghệ mới để giữ gìn và phát triển nội lực bản xứ.
Nhịp sống buôn bán ấy gắn liền với con sông Vị Hoàng, nơi thuyền bè từng tấp nập chở hàng hóa vào thành phố. Sau này, khi dòng sông bị lấp dần để mở rộng đô thị, nhà thơ Thành Nam Trần Tế Xương đã để lại nỗi bâng khuâng trong bài thơ nổi tiếng Sông lấp. Chỉ vài câu thơ thôi cũng đủ gợi lại một thời trên bến dưới thuyền của Thành Nam, cái nền đời sống mà từ đó những cửa hiệu, những người buôn bán bản xứ đã dần hình thành nên một diện mạo thương nghiệp của thành phố.
Thế nhưng, tầng lớp thương nhân bản xứ này lại không có nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ và lâu dài. Nền kinh tế Đông Dương khi ấy vẫn nằm dưới sự chi phối của các công ty Pháp, đặc biệt trong các ngành công nghiệp lớn và xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, mạng lưới thương mại rộng khắp ở nhiều đô thị lại do cộng đồng Hoa kiều nắm giữ, với lợi thế về vốn, kinh nghiệm và sự liên kết bang hội. Trong bối cảnh ấy, thương nhân người Việt phần lớn chỉ hoạt động ở quy mô vừa và nhỏ.
Rồi sau đó, những biến động lớn của thế kỷ XX như chiến tranh, thay đổi chế độ kinh tế đã khiến lớp thương nhân này dần biến mất khỏi đời sống xã hội.
Lần giở lại những câu chuyện về lớp thương nhân Thành Nam xưa, tôi tự thấy mình có trách nhiệm phải kể lại. Không phải để tôn vinh những điều gì quá lớn lao, mà chỉ để nhắc nhớ một lát cắt thú vị rằng trong dòng chảy xã hội Việt Nam, tinh thần thực nghiệp vốn đã bén rễ rất rõ ràng. Để rồi ta nhận ra, qua những khúc quanh thăng trầm của lịch sử, điều chúng ta đôi khi thiếu không phải là những con người nhạy bén, mà chỉ là những vận hội đủ lớn để họ vươn xa.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét