Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị - Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị - Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

27/06/2026

Tuổi già và góc nhìn về hai chữ "Nghỉ ngơi"

 Chuyện nhặt ở bên đường.

Có sự cộng tác với Gemini trong dàn bài và biên tập 

 

 

Tranh do Gemini tạo

 Nhân thấy 1 clip đăng trên Youtub về việc “Người già …làm việc tới chết” mà mình thấy thương tâm và nao lòng. Đây không là cá biệt, ta thường xuyên thấy những hiện tượng này trong thực tế hằng ngày, trên báo, trên mạng xã hội hình ảnh người già, người cao tuổi  vẫn mẫn cán gác cổng, bảo vệ, trông xe hay làm những công việc nặng nhọc, không phù hợp với sức khỏe. Truyền thông thường dùng những từ ngữ rất đẹp để gọi tên điều đó, nào là “tuổi tác chỉ là con số”, “sống vui, sống khỏe, sống có ích” "tìm thấy mục đích sống", nào là "giữ gìn sự minh mẫn" hay "nghị lực phi thường"…Những lời lẽ hay ho, có cánh như thúc đẩy, hướng người già đi đến một tương lai đầy màu sắc.

Đứng ở góc độ một người đã đi qua gần bốn mươi năm công tác, nếu cộng lại, có lẽ bốn mươi năm ấy cũng là một phần đời không hề ngắn. Vậy thì khi nghỉ hưu, điều tôi mong không phải là tìm thêm một chiếc thẻ chấm công khác. Điều tôi mong là được sống chậm. Nay đã lui về làm một ông già hưu trí bên mấy chậu lan, cuốn sách... Cũng chả dư dả lắm nhưng đủ sống, không phiền lụy (Lạy Phật phù hộ).

Tôi cứ băn khoăn mãi. Liệu phía sau những lời ngợi ca ấy, chúng ta có đang vô tình lãng mạn hóa một thực tế có phần khắc nghiệt?

Thiển nghĩ, mọi sinh vật trên đời đều vận hành theo những quy luật tự nhiên. Cây cối sau mùa trút lá thì cần thời gian ủ mầm, con người sau những năm tháng đem hết thanh xuân, sức lực cống hiến cho xã hội và chăm lo cho gia đình, thì tuổi già chính là lúc chiếc kim đồng hồ sinh học báo hiệu cần phải chậm lại. Việc được tự do lựa chọn một nhịp sống thư thái, ngắm một nhành hoa nở, đọc một cuốn sách, hay đơn giản là không làm gì cả để cơ thể được phục hồi, thiết nghĩ là một quyền lợi an dưỡng rất đỗi nhân văn.

Có một sự khác biệt rất lớn giữa việc chủ động làm việc vì niềm vui trí óc và việc phải lao động chân tay để mưu sinh. Khi một người cao tuổi tìm đến công việc như một cách để khuây khỏa, để "thể thao trí óc" trong tâm thế tự tại, điều đó thật đáng quý. Nhưng nếu vì áp lực cơm áo, vì những thiếu hụt trong hệ thống an sinh, hay thậm chí là vì áp lực tâm lý từ những lời ca tụng trên truyền thông khiến họ không dám nghỉ ngơi, coi việc nghỉ ngơi là "gánh nặng cho con cháu" hay "lười biếng", thì đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Tôi cũng để ý thấy một điều thú vị. Ngày xưa, người ta cố gắng học hành, làm việc, tích góp... với hy vọng sau này sẽ có tuổi già thanh thản. Ngày nay, đôi khi người ta lại nói như thể nghỉ hưu chỉ là bắt đầu một cuộc lao động mới. Nếu cứ thế, vậy mục đích của mấy chục năm đóng bảo hiểm, đóng thuế, tích lũy là gì?

Đặc biệt, ở một xã hội coi trọng truyền thống như nước ta, "nếp nhà" và sự gắn kết giữa các thế hệ luôn là chỗ dựa tinh thần lớn nhất. Người già rút lui khỏi thị trường lao động không có nghĩa là họ ngừng tạo ra giá trị. Việc một người ông, người bà mạnh khỏe, an yên ở nhà giữ gìn nề nếp gia đình, chia sẻ trải nghiệm sống cho con cháu, hay đơn giản là tự chăm sóc tốt cho bản thân để giảm gánh nặng lên hệ thống y tế, đó chẳng phải cũng là một sự cống hiến vô hình nhưng vô giá đó sao?

Hơn nữa, thị trường việc làm luôn là một dòng chảy có giới hạn. Khi thế hệ trước bằng lòng nhường lại sân khấu, lùi về phía sau, chính là đang mở ra không gian và cơ hội cho những người trẻ tuổi tiến lên, tích lũy và gánh vác tương lai. Đó là sự tiếp nối bền vững và tự nhiên của xã hội.

Tôi vẫn thường tự nhủ, lao động là để sống, chứ sống không phải chỉ để lao động cho đến kiệt cùng sức lực. Ở tuổi 63, cái "lắc đầu" trước những bận rộn danh lợi bên ngoài để chọn lấy sự tự tại bên trang viết, góc vườn không phải là sự buông xuôi, mà là một sự tỉnh táo. Tỉnh táo để biết thế nào là đủ, và để trả lại cho tuổi già đúng nghĩa của hai từ: An hưởng.

Lao động là một điều đáng quý. Nhưng sau một đời lao động, được nghỉ ngơi cũng đáng quý không kém.

Chuyện nhặt được trên đường, đôi dòng suy ngẫm cùng các bạn

25/06/2026

Cảnh quan hùng vĩ, hoang sơ của Đà Lạt những năm 1929-1930

 

    Bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và hoang sơ của Đà Lạt một thế kỷ trước được ghi lại qua ống kính người Pháp, từ trang https://gallica.bnf.fr/accueil/fr/html/accueil-fr sẽ khiến nhiều người không khỏi choáng ngợp.

 

Những ngọn đồi uốn lượn như sóng của cao nguyên Lâm Viên, nơi tọa lạc đô thị nghỉ dưỡng Đà Lạt, 1929-1930.

Rừng thông bên rìa cao nguyên Lang Biang.

Cảnh rừng núi hoang sơ của Đà Lạt. Đỉnh Lang Biang hiện ra phía bên trái.

Đà Lạt nhìn từ phía Nam hồ Xuân Hương.

Góc nhìn từ trên cao tuyến đường sắt răng cưa nối giữa các ga Krong Pha và Bellevue (Eo Gió) trên tuyến đường sắt Phan Rang – Đà Lạt.

Một hình ảnh khác về đường sắt răng cưa Krong Pha – Bellevue. “Răng cưa” là phần sẫm màu nằm giữa hai hàng thanh ray.

Toàn cảnh công trường xây dựng tuyến đường sắt răng cưa Krong Pha – Bellevue.

Khách sạn Langbian Palace, nay là Dalat Palace – khách sạn lâu đời, nổi tiếng bậc nhất thành phố Đà Lạt.

 

24/06/2026

Bác sĩ Alexandre Yersin (1863–1943) - CÔNG DÂN DANH DỰ (*) của Việt Nam Ta.

 Dựa vào tài liệu đăng trên Saigon vi vu

 (Bài dài nhưng rất đáng đọc)

 


Dịch hạch từng là nỗi kinh hoàng khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại, có thời điểm đã cướp đi sinh mạng của hai phần ba dân số châu Âu và một phần ba dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Alexandre Yersin là người đầu tiên tìm ra vi khuẩn này (trực khuẩn Yersinia pestis), đặt nền móng cho các nhà khoa học về sau khống chế hoàn toàn căn bệnh tử thần.

Cuộc đời của Yersin là một thiên sử ký kỳ thú mà từng trang viết về Ông đều gắn chặt với hai tiếng: Việt Nam.

Tốt nghiệp tiến sĩ y khoa tại Paris với đề tài về bệnh lao, ông cùng người thầy hướng dẫn, giáo sư Roux đã vang danh khi phát minh ra độc tố bạch hầu. Thành tựu xuất sắc ấy lọt vào mắt xanh của thiên tài Louis Pasteur, đưa Yersin vào làm việc tại Viện Pasteur Paris danh giá. Thế nhưng, dòng máu thám hiểm sục sôi trong lồng ngực đã khiến vị bác sĩ trẻ nằng nặc xin nghỉ việc để làm thủy thủ trên tàu viễn dương, dù bản thân chưa một ngày có kinh nghiệm đi biển. Ông bảo: "Đời mà không đi, thì còn gì là đời".

Sau mỗi chuyến hải trình, khi quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur mời ăn tối để nghe báo cáo. Cuốn hút trước những thông tin mới mẻ từ người học trò, Pasteur căn dặn Yersin hãy làm việc gì thì làm cho trọn vẹn để "vang danh thiên hạ, giúp đỡ nhân loại". Vâng lời thầy, Yersin lại xách hành lý lên tàu. Hình ảnh người trí thức trẻ khăn gói xuống thuyền, dọc ngang quả đất sau khi học xong là một biểu tượng tuyệt đẹp của những con người sống có lý tưởng.

Đến Việt Nam năm 1891, ông làm bác sĩ trên các chuyến tàu chạy dọc Sài Gòn, Manila, Hải Phòng. Rồi trong một lần tàu cập bến Nha Trang, ông đã phải lòng cảnh sắc nơi này và quyết định chọn đây làm chốn dừng chân. Đầu thế kỷ 20, ông tham gia sáng lập và trở thành hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Y khoa Đông Dương (nay là Đại học Y Hà Nội). Tại đây, ông tự tay xây dựng giáo trình sơ khởi và đặt nền móng y đức cho các thế hệ bác sĩ nước nhà, quy hoạch mạng lưới bệnh viện khắp các tỉnh thành theo khoảng cách địa lý sao cho "ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến chữa trị kịp thời".

Nhưng Thăng Long hào hoa cũng chỉ giữ chân người lữ khách được hai năm. Ông quay về với biển Nha Trang, bắt đầu chuỗi ngày vừa làm khoa học vừa dấn thân vào những vùng rừng núi đại ngàn Đông Dương. Ông chính là người đã phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, khai sinh ra thành phố Đà Lạt thơ mộng, rồi lập nên các Viện Pasteur tại Đà Lạt, Nha Trang, Sài Gòn và Hà Nội. Trại ngựa Suối Dầu do ông lập ra để lấy huyết thanh sản xuất vắc-xin từng là trại ngựa thuốc lớn nhất châu Á thời bấy giờ. Không chỉ vậy, ông còn di thực cây ký-ninh về trồng để chiết xuất thuốc trị bệnh sốt rét, với tâm nguyện biến Diên Khánh thành một đô thị dược phẩm cho cả vùng Đông Dương.

Ít ai biết rằng, rất nhiều loại cây công nghiệp mang lại giá trị xuất khẩu hàng tỷ đô-la cho Việt Nam ngày nay như cao su, ca cao, cà phê đều do chính Yersin mang về thuần hóa. Ông thử nghiệm trồng cà phê quy mô lớn ở Lâm Đồng, Đắk Lắk, Pleiku; nuôi cừu, trồng nho ở Phan Rang; nuôi đà điểu ở Ninh Hòa. Hầu hết các loại rau củ ôn đới quen thuộc hiện nay như cà rốt, súp lơ, su su, xà lách son, cà chua, hay các loài hoa lay-ơn, cẩm tú cầu... đều do ông cùng các đồng sự di thực vào. Những thức rau củ phương Tây xa lạ ấy, đã dần bước vào căn bếp và trở nên gần gũi, quen thuộc trên mâm cơm của người Việt Nam Ta.

Yersin là một triệu phú nông nghiệp đúng nghĩa. Nhờ đi đầu trong việc trồng và sản xuất mủ cao su cung cấp cho các hãng lốp xe lớn như Michelin, ông đã tích lũy được một nguồn tài sản cá nhân khổng lồ. Thế nhưng, ông từng khẳng định một nguyên tắc sống kiên định: "Tôi phải kiếm tiền kiểu khác, chứ không tài nào cầm được tiền của người bệnh". Toàn bộ lợi nhuận từ đồn điền và các hoạt động khoa học của ông đến tận ngày nay vẫn lặng lẽ được chuyển về các quỹ từ thiện và tài trợ cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

Sống một mình giản dị trong ngôi nhà gỗ ở Nha Trang cho đến cuối đời, ông biến nơi ở của mình thành một trại tế bần khổng lồ, luôn mở cửa ngày đêm cho người sa cơ lỡ vận, đói kém, ốm đau. Bản thân không vợ con, dâng hiến trọn vẹn cho khoa học, nhưng người dân nghèo quanh vùng kính yêu ông như cha mẹ ruột.

Có lần, lũ trẻ trong xóm lẻn vào nhà ông xem phim chiếu bóng rồi nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng liền bị ông cản lại: "Đừng la trẻ nhỏ, nghe lớn tiếng chúng sẽ sợ". Một lần khác, khi ông đang lái xe hơi, một người dân bất cẩn lao vào xe ông. Dù lỗi hoàn toàn thuộc về người đi bộ, Yersin vẫn vội vã đỡ họ dậy băng bó, xin lỗi họ và kiên quyết trả lại xe hơi cho chính phủ để chuyển sang đi xe đạp. Ông bảo: "Dân chúng xứ này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng không gây thương vong cho họ". Ngay cả khi lên Tây Nguyên tìm thuốc và bị người bản địa bắt giữ, định hành quyết, chính ánh mắt chân thành, thiện lương kỳ lạ của ông đã làm lay động những mũi tên hòn đạn. Họ thả ông ra, để rồi sau đó ông trở thành người chữa bệnh và gửi thuốc men đều đặn cho cả buôn làng.

Giữa thời cuộc mà nhiều trí thức bản xứ tìm đường sang Pháp để tận hưởng sự văn minh sẵn có, Yersin lại như con cá bơi ngược dòng. Rời bỏ Thụy Sĩ giàu có quê hương, rời bỏ Paris hoa lệ với danh tiếng lẫy lừng, ông xuống tàu đi về phương Đông, một miền đất nghèo nàn, xa lạ. Ông chọn Việt Nam làm nơi sống, làm việc và gửi gắm thân xác. Ông luôn nói: "Tôi mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và tôi sẽ phụng sự cả tính mạng và cuộc đời tôi cho họ".

Năm 1943, Yersin trút hơi thở cuối cùng, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho giới y khoa và thám hiểm toàn cầu. Giây phút cuối đời, ông nhờ người quản gia dìu ra cửa sổ để nhìn về phía biển, nơi ghi dấu một thời dọc ngang tuổi trẻ. Đám tang của ông là đám tang lớn nhất xứ Trầm Hương thời bấy giờ. Nghe tin ông Năm mất (người dân nơi đây gọi Ông vậy), người dân bỏ hết công ăn việc làm. Tàu bè ngoài khơi vội vã cập bến xóm Cồn, tự nguyện ngưng đánh bắt nhiều ngày. Những người phụ nữ tiểu thương quanh năm lam lũ đã vứt bỏ quang gánh, bỏ cái nón lá quen thuộc để chít lên đầu mảnh khăn tang trắng xóa, tiễn đưa ông trong nước mắt nghẹn ngào. Cả người dân Hong Kong, nơi ông từng dập tắt trận dịch hạch kinh hoàng cũng hướng về ông với lòng biết ơn sâu sắc.

Trước đó, nước Úc từng mời ông sang thành lập Viện Pasteur, Hong Kong cũng tìm mọi cách giữ ông lại, nhưng ông từ chối tất cả để quay về dải đất hình chữ S mà mình đã trót lòng yêu thương. Di chúc của ông để lại vô cùng giản dị: "Tôi muốn được an táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển... Mọi tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm".

Công lao của ông với dân tộc này, với đất nước này là không thể nào đong đếm.

Thiết nghĩ, sách giáo khoa nên có nhiều bài học sâu sắc hơn về ông để các thế hệ mai sau mãi mãi ghi nhớ. Lòng biết ơn chính là thước đo độ văn minh của một cá nhân và của cả một dân tộc.

Và hơn cả lòng biết ơn, câu chuyện của Yersin là một lời thức tỉnh về tinh thần Phụng sự và Dấn thân

Phàm làm người, ai càng sớm tìm thấy lý tưởng sống và dám sống vì nó, người đó càng có một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn và không hối tiếc. Hãy cùng nhau sống trách nhiệm hơn, để làm cho Việt Nam tốt đẹp hơn mỗi ngày.

***
(*) 
Vào năm 2013, Chính phủ nước ta đã chính thức truy tặng danh hiệu "Công dân danh dự Việt Nam" cho bác sĩ Alexandre Yersin. Ông cũng là người nước ngoài đầu tiên và duy nhất cho đến nay nhận được vinh dự này. 

20/06/2026

Văn hóa Bắc – Nam: Hai dòng chảy làm nên một bản sắc Việt (tên do ChatGPT đặt)

Có sự hợp tác với ChatGPT trong việc chọn lựa cách diễn giải và biên tập.

 

 

Ảnh do ChatGPT tạo.

 Có một điều khá thú vị trong đời sống người Việt mình: chỉ cần nghe giọng nói, nhìn cách ăn uống, cách giao tiếp hay một vài thói quen nhỏ, người ta đôi khi có thể đoán được một người đến từ vùng nào.

Nhưng càng đi nhiều, càng đọc nhiều, tôi lại càng thấy những khác biệt ấy không phải là khoảng cách, càng không phải là lý do để so sánh nơi này hơn nơi kia. Nó giống như những lớp phù sa của thời gian bồi đắp lên từng vùng đất, mỗi nơi giữ lại một dáng vẻ riêng.

Có lẽ vì miền Bắc là một trong những vùng đất sớm định hình văn hóa Việt, nên trong đời sống đậm dấu ấn của truyền thống, của làng xã, của những phép tắc được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Người ta coi trọng lễ nghĩa, gia đình, họ hàng, sự trước sau trong cách ứng xử.

Còn miền Nam lại là câu chuyện của những cuộc lên đường. Những người rời quê đi mở đất mang theo vốn sống, phong tục, niềm tin và cả nỗi nhớ quê nhà. Nhưng khi đến vùng đất mới, họ phải học cách thích nghi, phải sống cùng những cộng đồng dân tộc khác nhau. Chính sự giao thoa ấy tạo nên một tính cách cởi mở, linh hoạt và dễ đón nhận cái mới.

Nhìn vào phong tục cưới hỏi, ta có thể thấy rõ hai cách giữ gìn văn hóa.

Ở miền Bắc, một đám cưới truyền thống thường trải qua nhiều nghi lễ: chạm ngõ, ăn hỏi, cưới xin. Những lễ vật như trầu cau, cốm, bánh phu thê... không chỉ là vật phẩm mà còn là cách hai gia đình thể hiện sự trân trọng, gắn kết và lời hứa với nhau. Đằng sau sự cầu kỳ ấy là một quan niệm lâu đời: hôn nhân không chỉ là chuyện của hai người mà còn là sự kết nối của hai gia đình.

Còn ở miền Nam, trong quá trình khai phá vùng đất mới, nhiều phong tục được giản lược để phù hợp hơn với hoàn cảnh sống. Lễ hỏi và lễ cưới ở nhiều nơi có thể gộp lại, nhưng nghi thức lên đèn trong lễ cưới lại giữ một ý nghĩa rất sâu sắc: ngọn lửa là biểu tượng của sự tiếp nối giữa tổ tiên và thế hệ sau.

Một bên coi trọng sự đầy đủ của nghi lễ, một bên coi trọng sự thuận tiện và tình cảm. Nhưng suy cho cùng, cả hai đều hướng về một điều giống nhau: mong muốn một gia đình mới được tổ tiên chứng giám và cuộc sống được tốt đẹp hơn.

Sự khác biệt ấy cũng thể hiện trong văn học, tựa như:

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du là đỉnh cao của dòng văn chương bác học, nơi mỗi câu chữ đều được gọt giũa để gửi gắm những suy tư về thân phận con người.

Trong khi đó, “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu lại gần với đời sống người dân Nam Bộ hơn. Cách kể chuyện giản dị, dễ nhớ, dễ truyền miệng, bởi mục đích không chỉ là thưởng thức văn chương mà còn là gửi gắm đạo lý làm người.

Một bên thiên về sự chiêm nghiệm, một bên thiên về sự lan tỏa. Nhưng cả hai đều xuất phát từ tâm hồn Việt: biết yêu cái đẹp và coi trọng nghĩa tình.

Sự khác biệt ấy còn thể hiện rất rõ trong mâm cơm hàng ngày. Người Bắc thường chú trọng sự hài hòa, thanh vị, giữ cái tinh của từng nguyên liệu. Người Nam lại có xu hướng kết hợp mạnh hơn, nhiều màu sắc hơn, tận dụng sự phong phú của sản vật miền đất mới.

Nhưng rồi theo thời gian, phở Bắc có mặt trong Nam, bánh tét Nam quen thuộc ở nhiều nơi ngoài Bắc. Văn hóa, suy cho cùng, không đứng yên trong một vùng đất; nó luôn vận động cùng con người.

Nghĩ kỹ thì hai nét tính cách ấy đều bắt nguồn từ một điều giống nhau: con người Việt Nam luôn tìm cách tồn tại và xây dựng cuộc sống trong hoàn cảnh của mình.

Người miền Bắc sống trong một không gian văn hóa lâu đời, nơi nhiều thế hệ trải qua những biến động của lịch sử, thiên tai và cuộc sống cộng đồng, nên hình thành thói quen gìn giữ, tích lũy và coi trọng nền nếp.

Người miền Nam đối diện với vùng đất mới, rộng lớn, nhiều thử thách, nên học cách hòa nhập, hợp tác và lược bỏ những hình thức không còn phù hợp với hoàn cảnh mới.

Một bên giữ cái đã có, một bên tạo ra cái mới. Một bên giống như gốc cây lâu năm, một bên như cành non vươn về phía nắng.

Nhưng tất cả vẫn chung một thân cây Việt Nam.

Có lẽ, khi hiểu được mỗi vùng đất đã đi qua một hành trình riêng, ta sẽ biết trân trọng sự khác biệt thay vì biến nó thành khoảng cách. Bởi một cây cổ thụ không thể chỉ có một cành, và một đất nước cũng không thể chỉ có một sắc màu.