Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

19/03/2026

12 kiệt tác ghế gỗ kinh điển trong văn hóa Trung hoa

 Tư liệu sưu tầm từ: Việt Phong - Khám Phá Trung Quốc

 

Trong dòng chảy hàng nghìn năm, món đồ nội thất không chỉ để ngồi, mà còn phản chiếu địa vị, thẩm mỹ và cả triết lý sống. Những chiếc ghế tưởng chừng giản đơn lại ẩn chứa những câu chuyện sâu sắc về lễ nghi và nghệ thuật chế tác tinh xảo.

Từ chiếc ghế Quan uy nghiêm nơi công đường, ghế Giao y thanh nhã trong thư phòng, đến những chiếc đôn gọn gàng nơi góc nhà... mỗi kiểu dáng là một lát cắt độc đáo của văn minh phương Đông.

Có một điểm thú vị: khi ngắm nhìn, bạn sẽ thấy thấp thoáng nét tương đồng với nội thất cổ điển châu Âu. Đó là kết quả của sự giao thoa văn hóa rực rỡ vào thế kỷ 17 - 18, khi những đường cong thời Minh từng làm say đắm các bậc thầy mộc phương Tây, và ngược lại, nét chạm trổ cầu kỳ của châu Âu cũng tìm thấy chỗ đứng trong nghệ thuật thời Thanh.

Mời các bạn cùng khám phá 12 mẫu ghế kinh điển, nơi từng đường nét, khớp nối không chỉ là kỹ thuật, mà còn là tinh hoa được chắt lọc qua bao thế hệ.

  

Có thể là hình ảnh về văn bản 

 

Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết '[băozuò] 宝座 VÀNG) BẢO Bảo tọa, còn được gọi là "ghế không phải là thứ mà bất CỨ ai cũng có thể ngồi lên trong thời cổ đọi; πό là món đồ nội thất có địa vị cao nhất trong văn hóa Hoa. Bảo tọa có thể được nhìn thấy trong Điện Thái Hòa, Điện Thiên Thanh và Điện Trung Hòa Cấm Thành. Thiết kế của nó mô phỏng một chiếc giường, thường nhấn mạnh các vật liệu được SỬ dụng để tăng thêm vẻ Uy nghiêm và làm nổi bật phẩm giá tối cao của người cai trị.' 

Có thể là hình ảnh về văn bản 

Có thể là hình ảnh về văn bản 

Có thể là hình minh họa về đồng hồ tủ và văn bản 

Có thể là hình ảnh về văn bản 

Có thể là hình ảnh về văn bản 

Có thể là hình ảnh về văn bản 

Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết '禅椅 đẫm tinh thần Thiền, được đẹp thanh thoát tối giản. Ban đầu sản phẩm của các ngôi nó được dùng làm chỗ cho các thiền SƯ khi thiền định. Ngày ghế Thiền, với đặc điểm tinh trang nhã, được nhiều hiện đại yêu thích thường được những nơi yên tĩnh các điện thờ Phật phòng học phòng trà để thiền định dưỡng bản thân. Thiền trông CÓ phóng khoáng nhưng vẫn tuân thủ các QUỤ nhất định; chỗ ngồi rộng rãi, tay vịn kéo dài và không gian ngồi thoải khiến phù hợp về mặt thực tiễn thẩm' 

Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'ပ.] 玫瑰椅 ngồi phổ biến của các tiểu thư Qhế hoa hồng một loại gắn liền với đẹp. lưng và tay vịn vuông φός với mặt ghế, φύρ duy trì sự nhẹ nhàng tổng thể của chiếc ghế. Thiết kế nhấn mạnh các đường nét mượt mà, đơn đường thẳng và đường cong đơn giản được dụng tựa lưng, tay vịn và chân ghế, tạo tư thể thư giãn phù hợp cho việc SỬ dụng lâu dài. Kích thước nhỏ γύρ dễ dàng chuyển, phù hợp với nhiều không gian khác nhau phòng học, phòng khách và phòng ngủ.' 

Có thể là hình ảnh về nhạc cụ và văn bản cho biết 'QHẾ TRỐNG) trống món đồ nội thất đặc sắc nhất trong dòng sản phẩm thất thống Trung Quốc. hình tròn, phần thân rộng đầu hình dáng của nó rất giống với một chiếc trống xưa, ghế trống thường được phụ nữ sỬ dụng. những họa tiết trang tinh những người phụ nữ thích cái đẹp thường tô điểm cho chiếc bằng tấm vài thêu của chính mình, trên một lớp vải thêu, vậy nó còn tên gọi khác "ghế bất kỳ góc độ nào, tạo ấn tượng về tròn trịa đáng ánh một trong ั quan niệm dân gian' 

Có thể là hình ảnh về ‎văn bản cho biết '‎ح [Dèng guà [Dengguàyi] .ု] 灯挂椅 ĐĂNG QUẢI AHέ ĐĂNG QUẢI) ghế Đăng Quải là một loại ghế Trung Quốc có lịch SỬ lâu đời, xuất hiện từ thời บี Đại. Tên gọi của nó xuất phát từ sự giống với บั giá đỡ đèn bằng tre được SỬ dụng miền Nam Trung Quốc để đỡ đèn dầu trên tường bếp. Thiết kế tổng thể ghế treo đèn thời ណា thẳng đứng, đơn giản và thanh lịch, đặc trưng cho đồ nội thất thời và là một trong những tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ này. I‎'‎ 

Có thể là hình ảnh về văn bản 

 

Các bạn thử tinh mắt nhìn xem, mẫu ghế nào trông giống phong cách phương Tây nhất nhé?

14/03/2026

Về nước : Khi tình thân quý hơn quà cáp

 

Ảnh do Gemini tạo

  

Mỗi dịp Tết đến xuân về, hay khi những chuyến bay từ phương xa đáp xuống, tôi lại thấy những nụ cười rạng rỡ của những người bạn trở về thăm quê. Sau bao năm xa cách, hội ngộ lúc nào cũng đong đầy cảm xúc. Thế nhưng, có một thực tế mà vì quá thân tình nên chúng ta ít khi nói thẳng: Việt Nam bây giờ khác xưa nhiều lắm.

Nhiều bạn xa quê lâu ngày vẫn giữ trong ký ức hình ảnh một đất nước của hai, ba mươi năm trước với suy nghĩ: "Về quê mình chắc còn thiếu thốn, cái gì cũng khó kiếm". Nhưng nếu thực sự bước chân vào nhịp sống hôm nay, có lẽ bạn sẽ giật mình. Việt Nam không còn là một vùng "nông thôn" chậm bước. Những siêu thị lớn hàng hóa tràn trề, đủ cả các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới; những quán cà phê thiết kế tinh tế, những nhà hàng đủ phong cách mọc lên khắp nơi.

Ngày xưa, hai chữ "Việt kiều" gắn liền với cái vẻ oai phong, đi kèm là những chai dầu gội, cục xà bông Coast hay gói kẹo ngoại làm quà. Nhưng giờ đây, những món quà ấy đôi khi lại gây khó xử cho người nhận, bởi chưa chắc đã phù hợp với nhu cầu hay thói quen sử dụng hiện giờ.

Vì vậy, tôi chỉ mong các bạn đừng tự đặt áp lực lên vai mình trong mỗi chuyến trở về.

Đừng để vali quà cáp nặng trĩu làm mệt mỏi đôi chân, cũng đừng để những tính toán "phải bao, phải đãi" làm nặng nề tâm trí. Vô tình, chuyến về thăm nhà lại trở thành một "gánh nặng" tinh thần cho cả đôi bên. Trong khi đó, điều chúng ta khao khát nhất thực ra chỉ là được gặp lại nhau.

Tôi có những người bạn định cư xa xứ, mỗi lần họ về chỉ cần một tin nhắn giản đơn: "Ra cà phê không?". Thế là ngồi bên nhau, nhâm nhi vị đắng quen thuộc, kể cho nhau nghe những thăng trầm của cuộc đời. Ai uống gì tự trả, hoặc thân quá thì chia đôi một cách nhẹ lòng. Không ai mong chờ sự bao đãi, cũng không ai thấy ngại ngần vì thiếu quà cáp.

Như Tết vừa rồi, tôi rất muốn mời bạn đến nhà dự bữa cơm chiều mồng Một hay ngồi lại bên mâm cơm hóa vàng mồng Ba để hưởng cái không khí Tết xưa của người Hà Nội. Nhưng rồi vì các bạn bận rộn với những lịch trình riêng, những lễ nghi thăm hỏi mà không thành. Thật là một điều đáng tiếc...

Bởi suy cho cùng, chúng ta trở về cốt là để tìm lại chính mình, tìm lại những ký ức gắn bó tại nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Dù diện mạo vật chất có thay đổi nhanh đến thế nào, thì vẫn có những thứ mãi mãi là "vô giá": đó là cái Tình mà không món quà đắt tiền nào có thể mua được.

Gửi những người bạn phương xa: Hãy cứ về khi thấy nhớ, hãy cứ gặp khi thấy thương. Đừng ngại ngần vì mình không mang theo "cả thế giới" trong vali, bởi chỉ cần bạn mang theo nụ cười và sự chân thành, quê hương luôn rộng mở vòng tay đón đợi.

Chỉ cần còn nhớ đến nhau, còn ngồi lại được với nhau, bấy nhiêu thôi đã đủ ấm lòng cho một chuyến trở về.

06/03/2026

Ngôn ngữ và chữ Quốc ngữ thời Pháp thuộc – một bước chuyển của văn hóa Việt.

  


Tranh ChatGPT tạo

 

Ngôn ngữ luôn là chiếc gương phản chiếu đời sống tinh thần của một dân tộc. Mỗi khi xã hội biến chuyển, chữ viết,  công cụ chuyên chở ngôn ngữ cũng theo đó mà thay đổi. Ở Việt Nam, vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, sự phổ biến của chữ Quốc ngữ đã tạo nên một bước ngoặt lớn: không chỉ là thay đổi cách viết, mà còn làm đổi khác cách đọc, cách học và cách nghĩ của cả xã hội.

Điều đáng nói là quá trình ấy không diễn ra đột ngột. Nó là kết quả của nhiều yếu tố: sự tổ chức mang tính khoa học của bộ máy quản lý mới, sự chuyển mình của xã hội Việt Nam và đặc biệt là sự tham gia của nhiều trí thức xuất thân từ Nho học – những người đã đem tài năng và lòng yêu tiếng Việt để làm cho chữ Quốc ngữ trở nên tinh luyện, giàu sức biểu đạt.

Chữ Quốc ngữ vốn hình thành từ thế kỷ XVII trong môi trường truyền giáo. Tuy nhiên, phải đến thời kỳ Pháp thuộc, nó mới được phổ biến rộng rãi và dần trở thành chữ viết chính của đời sống xã hội.

Một phần nguyên nhân nằm ở cách tổ chức hành chính và giáo dục của chính quyền thời ấy. Họ nhận ra rằng một hệ chữ ghi âm theo mẫu tự Latin có ưu thế rõ rệt: dễ học, dễ in ấn, dễ phổ biến. Trong bối cảnh cần đào tạo một tầng lớp công chức, thư ký, giáo viên, việc sử dụng chữ Quốc ngữ giúp rút ngắn đáng kể thời gian học tập so với hệ thống chữ Hán phức tạp.

Nhưng nếu chỉ có sự thúc đẩy từ phía quản lý thì chữ Quốc ngữ khó có thể bén rễ sâu trong xã hội. Điều làm nên sức sống của nó chính là việc nhiều trí thức người Việt đã tiếp nhận, sử dụng và làm giàu nó bằng văn chương, báo chí và giáo dục.

Trước đó, trong nhiều thế kỷ, chữ Hán giữ vai trò gần như độc tôn trong học thuật và hành chính. Một người muốn bước vào con đường khoa bảng phải dành cả tuổi trẻ để học chữ, học kinh điển.

Sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ không xóa bỏ ngay truyền thống ấy. Trong một thời gian dài, hai hệ chữ cùng tồn tại: chữ Hán vẫn giữ vị trí trong giới Nho học, còn chữ Quốc ngữ dần lan ra đời sống mới từ các trường học kiểu mới, báo chí, thương mại và hành chính.

Chính trong giai đoạn song hành ấy, nhiều trí thức Nho học đã đóng vai trò cầu nối. Họ hiểu sâu văn hóa cổ truyền nhưng lại sử dụng chữ Quốc ngữ một cách nhuần nhuyễn. Nhờ vậy, những giá trị của văn học và tư tưởng cũ được chuyển tải sang một hình thức mới, gần gũi hơn với đông đảo người đọc.

Một trong những minh chứng rõ rệt nhất cho sự chuyển biến ấy là việc các tác phẩm văn học cổ điển được in bằng chữ Quốc ngữ.

Trường hợp tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Tác phẩm vốn tồn tại chủ yếu trong hình thức chép tay bằng chữ Nôm. Khi được các học giả Nam Kỳ phiên âm và in bằng chữ Quốc ngữ, đặc biệt qua công trình của Trương Vĩnh Ký tác phẩm này bắt đầu có đời sống mới: từ sách của giới học giả trở thành cuốn sách mà người bình dân cũng có thể đọc.

Cũng trong môi trường ấy, những học giả như Huỳnh Tịnh Của đã góp phần biên soạn từ điển, dịch thuật và hệ thống hóa tiếng Việt. Những công trình ấy không chỉ có giá trị học thuật mà còn giúp chuẩn hóa cách viết và cách hiểu tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ.

Từ đây, văn học Việt Nam bước sang một giai đoạn mới: sách được in nhiều hơn, người đọc đông hơn, và sự trao đổi tư tưởng trở nên rộng rãi hơn.

Điều thú vị là nhiều nhà văn nổi bật của giai đoạn đầu thế kỷ XX vốn xuất thân từ Nho học. Họ mang theo vốn văn hóa cổ truyền nhưng diễn đạt bằng chữ Quốc ngữ rất tinh tế.

Có thể kể đến những tên tuổi như Tản Đà, Ngô Tất Tố ở miền Bắc; Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh ở miền Trung; cùng nhiều cây bút ở Nam Kỳ.

Điểm chung của họ là một lối văn vừa hiện đại vừa thấm đẫm tinh thần cổ điển. Tiếng Việt trong các tác phẩm ấy mạch lạc, trong sáng, giàu nhạc điệu mà không cần đến sự phô trương cầu kỳ. Đó là thứ văn phong cho thấy chữ Quốc ngữ không chỉ là phương tiện ghi chép mà đã trở thành công cụ sáng tạo văn hóa.

Nhìn rộng ra, sự phổ biến của chữ Quốc ngữ đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong đời sống tinh thần của người Việt.

Người dân có thể học chữ nhanh hơn. Báo chí và sách vở trở nên phổ biến hơn. Những kiến thức về khoa học, kỹ thuật, lịch sử hay địa lý có thể được truyền bá rộng rãi. Một tầng lớp độc giả mới xuất hiện, những người không cần trải qua con đường khoa cử vẫn có thể tiếp cận tri thức.

Từ đó, cách suy nghĩ của xã hội cũng dần thay đổi: việc học không còn chỉ để thi cử mà còn để hiểu biết và tham gia vào đời sống mới.

Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của nước Việt Nam mới, ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho phát động phong trào Bình dân học vụ, nhằm nhanh chóng phổ cập chữ Quốc ngữ cho toàn dân. Người coi “giặc dốt” là một trong ba kẻ thù cấp bách của đất nước, cùng với giặc đói và giặc ngoại xâm.

Quan niệm ấy cho thấy một tầm nhìn rất sâu xa: một dân tộc muốn độc lập bền vững thì trước hết phải có tri thức. Trong bối cảnh nhiều xã hội phương Đông trước đó từng tồn tại những chính sách hạn chế việc học của quảng đại quần chúng, việc đặt vấn đề xóa nạn mù chữ như một nhiệm vụ quốc gia có thể xem là một bước tiến lớn trong nhận thức về vai trò của giáo dục và dân trí.

Ngày nay, khi chữ Quốc ngữ đã trở thành hệ chữ viết duy nhất của tiếng Việt, đôi khi ta dễ quên rằng nó từng trải qua một hành trình dài để được chấp nhận và hoàn thiện.

Hành trình ấy không chỉ có vai trò của những người quản lý hay của hoàn cảnh lịch sử, mà còn có đóng góp của nhiều thế hệ trí thức Việt Nam, những người đã dùng chính tiếng Việt để làm giàu cho tiếng Việt.

Nhìn lại giai đoạn ấy, ta có thể cảm nhận rõ một điều: ngôn ngữ của một dân tộc không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là nơi lưu giữ tinh thần và bản sắc của cả một nền văn hóa.

Trân trọng, gìn giữ và làm cho tiếng Việt ngày càng trong sáng, phong phú cũng chính là cách để hôm nay mỗi chúng ta lặng lẽ nhưng bền bỉ tiếp nối công việc mà các thế hệ đi trước đã dày công gây dựng.