Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức chung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức chung. Hiển thị tất cả bài đăng

06/05/2026

Trò chơi Pháp chế

 

Tranh Gemini tạo

 

Nhân loại quả thực là một giống loài kỳ quái.

Thuở sơ khai, chúng ta chỉ tuân theo một quy luật duy nhất: Vật cạnh thiên trạch (Vạn vật tranh giành để sinh tồn, cá lớn nuốt cá bé), một quy luật tuy tàn nhẫn nhưng lại công bằng tuyệt đối theo cách của tự nhiên. Thế rồi, khi con người bắt đầu biết mưu cầu quyền lợi và sự thống nhất, một thứ công cụ mới ra đời để kìm hãm bản năng: Pháp chế.

Ban đầu, pháp chế xuất hiện với sứ mệnh đưa mọi người về vạch xuất phát ngang hàng để dễ bề quản lý. Nhưng càng về sau, lớp vỏ bọc ấy lại trở thành sợi dây trói buộc những kẻ yếu ở tầng đáy xã hội. Có lẽ, chỉ ở cái ngưỡng thấp nhất của sự sinh tồn ấy, người ta mới thực sự "ngang hàng" với nhau trong lưới luật pháp.

Ngược lại, khi quyền lực và thế vị đủ lớn, người ta dường như không còn thuộc về thế giới của những điều luật cơ bản nữa. Họ âm thầm quay lại với quy luật tiền sử: Kẻ mạnh sống sót, kẻ yếu diệt vong.

Hãy nhìn vào những cuộc xung đột giữa các quốc gia, hay sự đối đầu giữa các đại cường quốc... Đó chẳng phải là sự phát triển đỉnh cao của quy luật cá lớn nuốt cá bé hay sao? Bất kể cá nhân hay tổ chức nào, khi đạt đến đỉnh cao quyền lực, trước sức hút của lợi ích sát sườn, họ đều sẵn sàng lột bỏ lớp áo văn minh để một lần nữa trở thành dã thú.

Một vị đại hiền từng nói: "Hoàng tử phạm pháp xử tội như thứ dân". Nhưng câu nói ấy có một kẽ hở chết người: Pháp là gì, và do ai quy định?

Luật pháp là sản phẩm của con người, mà đã là con người thì luôn khao khát đặc quyền. Luật pháp tất nhiên có hiệu lực, nhưng hiệu lực đó nặng hay nhẹ lại tùy thuộc vào việc "người vi phạm là ai". Đây chính là quy tắc ngầm của khu rừng xã hội, nơi hổ báo và hươu nai chưa bao giờ dùng chung một thước đo công lý.

Điều nực cười nhất là giới thượng tầng hiếm khi công khai thừa nhận đặc quyền của mình. Họ vẫn luôn khẳng định mình đề cao pháp luật, bởi nếu thừa nhận thực tế, chẳng phải là quá vô sỉ sao? Còn những người bình dân, phần vì "lực không bằng người" mà cam chịu, phần vì bám víu vào hy vọng mong manh rằng nếu cố gắng, một ngày nào đó họ cũng sẽ bước chân vào hàng ngũ những kẻ đứng trên luật pháp.

Nhìn lại những nỗ lực xây dựng một thế giới văn minh, ta không khỏi tự vấn: Rốt cuộc tất cả để làm gì? Liệu những giá trị cao đẹp có thực sự chiến thắng được bản năng dã thú bên trong mỗi con người? Hay sau vài ngàn năm tiến hóa, chúng ta thực chất chỉ đang đi một vòng lặp khổng lồ và rồi lại phủ phục trước luật rừng dưới một cái tên hoa mỹ hơn.

Đó không chỉ là nỗi đau của kẻ yếu mà còn là sự bất lực của một giống loài mãi loay hoay giữa "lý tưởng" và "bản năng".

Âu, Đời vẫn vậy thôi…

03/05/2026

Cái giàu của người Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ 20

 

 Giấy bạc Đông dương mệnh giá 100 đồng (ảnh st trên net)

 

Cái giàu của người Nam Kỳ xưa (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20) thường được gắn với câu "Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa", chỉ 4 người giàu có bậc nhất Sài Gòn và Đông Dương thời bấy giờ. Sự giàu có này mang đậm màu sắc của thời kỳ khai phá đất đai, thương mại phát triển dưới thời Pháp thuộc.

Tiền giấy Đông Dương (piastre) là loại tiền tệ do Ngân hàng Đông Dương (Banque de l'Indochine) phát hành và lưu thông tại các xứ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) từ năm 1885 đến năm 1954 (wikipedia.org).

 Năm 1934, gia tộc nhà ông Lê Phát Đạt (ông Huyện Sỹ  ông ngoại Nam Phương Hoàng Hậu) gả Nguyễn Hữu Thị Lan về làm hoàng hậu nhà Nguyễn. Cậu hai Lê Phát An tặng cho cháu gái 1 triệu đồng tiền mặt làm của hồi môn ôm theo “dằn mặt”, hoàng gia khi đó rất nghèo, một triệu đồng Đông Dương đương 22.000 cây vàng.

Một triệu đồng Đông Dương bằng 10.000 tờ giấy Xăng (tờ giấy bạc 100 đồng Đông Dương), số tiền này tương đương 22.000 lạng vàng, tính bằng tiền bây giờ cỡ khoảng hơn 30 triệu Đô chứ bao nhiêu chưa kể 100 năm về trước tiền còn có giá biết chừng nào.

Con gái đại gia lấy chồng làm Vua có khác !

Thì ra cái sự giàu có của đại gia Nam Kỳ trong tiểu thuyết nhà văn Hồ Biểu Chánh viết không những có thật  mà còn kinh khủng hơn trong truyện.

Người Nam Kỳ xưa có câu “Tiền muôn bạc vạn” chỉ sự giàu sang phú quý của những nhà “giàu nứt vách đổ tường”. Bạc vạn là từ 10.000, bạc muôn là trên 100.000 đồng.

Đồng tiền xưa rất có giá, năm 1925, một mẫu ruộng tốt ở Nam Kỳ có giá 50 đồng, có khi 80 đồng. Được xếp loại “đại điền chủ” thì gia đình đó phải có 50 mẫu ruộng trở lên, vị chi 50 mẫu điền x 50 đồng = 2.500 đồng bạc, hoặc 80 x 50 = 4.000 đồng bạc là gia tài của một đại điền chủ thấp nhất.

Năm 1930 Nam Kỳ có cả thảy 6.690 đại điền chủ có từ 50 mẫu đất trở lên.

Xem truyện của nhà văn Hồ Biểu Chánh ta thấy chưa có ông đại điền chủ nào có tiền mặt trong nhà quá 40.000 đồng. Trong tiểu thuyết “Con nhà giàu” ta thấy cha mẹ cậu Tư, một đại điền chủ có 500 mẫu điền, chết để lại có 25.000 đồng trong tủ. Hồi xưa tiền có giá, chưa có danh từ tỷ phú như bây giờ, chỉ triệu phú là hết mức. Vậy số tiền một triệu đồng của cậu hai Denis Lê Phát An cho bà Nam Phương lớn không thể tưởng tượng.

Chúng ta cũng không quên ông Nguyễn Hữu Hào bà Lê Thị Bính chỉ có 2 cô con gái, ngoài một triệu lận lưng khi lấy chồng, sau đó khi cha mẹ chết bà Nam Phương còn được chia một nửa gia tài của cha mẹ nữa.

Trong Con Nhà Nghèo cậu Ba Cam đi làm Sốp Phơ (Chauffeur) cho Thầy Kiện một tháng đã có 40 đồng Đông Dương coi như là phủ phê lắm rồi vì ở dưới Gò Công thằng Cu đi làm mướn chủ nuôi cả năm chỉ được có ba bốn chục đồng Bạc.

Thầy Thông trong Cô Lý Cô Đào mỗi ngày làm có 1 đồng bạc tháng đi làm chạy 26 đồng mà đã nuôi được vợ con, ngặt sau này vợ con bệnh nên bán chiéc xe máy giá 20 đồng, thầy tiếc không bán vì chiếc xe máy này thầy mua tới 40 đồng tức gần hai tháng lương của thầy. Sau này người ta đem bỏ con thầy lụm về nuôi phát hiện ra 50 tờ giấy bạc từ đó phất lên làm giàu.

Cho nên số tiền này thuở đó là khổng lồ, nếu so sánh với bạc hiện nay, thì số tỷ vẫn chưa vừa, vì tỷ phú ngày nay có hiếm, chớ như hồi năm 1920 tờ giấy xăng (100$) có người trọn đời chưa từng thấy, và giàu bạc muôn, tức trong nhà có được mười ngàn, đã là giàu bạc “nứt đố đổ vách..”

Vậy mới thấy, cái danh xưng "Tiền muôn bạc vạn" của người Nam Bộ xưa không hề nói quá. Giữa một thời đại mà vài chục đồng đã đủ nuôi sống cả gia đình, thì con số một triệu đồng Đông Dương thực sự là một tài sản khổng lồ. Qua những con số ấy, ta càng thấu hiểu hơn cái nền tảng gia thế cực kỳ đồ sộ của Nam Phương Hoàng hậu, một biểu tượng về nhan sắc, trí tuệ và cả sự giàu có tột bậc của Việt Nam đầu thế kỷ 20.