Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng

14/03/2026

Về nước : Khi tình thân quý hơn quà cáp

 

Ảnh do Gemini tạo

  

Mỗi dịp Tết đến xuân về, hay khi những chuyến bay từ phương xa đáp xuống, tôi lại thấy những nụ cười rạng rỡ của những người bạn trở về thăm quê. Sau bao năm xa cách, hội ngộ lúc nào cũng đong đầy cảm xúc. Thế nhưng, có một thực tế mà vì quá thân tình nên chúng ta ít khi nói thẳng: Việt Nam bây giờ khác xưa nhiều lắm.

Nhiều bạn xa quê lâu ngày vẫn giữ trong ký ức hình ảnh một đất nước của hai, ba mươi năm trước với suy nghĩ: "Về quê mình chắc còn thiếu thốn, cái gì cũng khó kiếm". Nhưng nếu thực sự bước chân vào nhịp sống hôm nay, có lẽ bạn sẽ giật mình. Việt Nam không còn là một vùng "nông thôn" chậm bước. Những siêu thị lớn hàng hóa tràn trề, đủ cả các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới; những quán cà phê thiết kế tinh tế, những nhà hàng đủ phong cách mọc lên khắp nơi.

Ngày xưa, hai chữ "Việt kiều" gắn liền với cái vẻ oai phong, đi kèm là những chai dầu gội, cục xà bông Coast hay gói kẹo ngoại làm quà. Nhưng giờ đây, những món quà ấy đôi khi lại gây khó xử cho người nhận, bởi chưa chắc đã phù hợp với nhu cầu hay thói quen sử dụng hiện giờ.

Vì vậy, tôi chỉ mong các bạn đừng tự đặt áp lực lên vai mình trong mỗi chuyến trở về.

Đừng để vali quà cáp nặng trĩu làm mệt mỏi đôi chân, cũng đừng để những tính toán "phải bao, phải đãi" làm nặng nề tâm trí. Vô tình, chuyến về thăm nhà lại trở thành một "gánh nặng" tinh thần cho cả đôi bên. Trong khi đó, điều chúng ta khao khát nhất thực ra chỉ là được gặp lại nhau.

Tôi có những người bạn định cư xa xứ, mỗi lần họ về chỉ cần một tin nhắn giản đơn: "Ra cà phê không?". Thế là ngồi bên nhau, nhâm nhi vị đắng quen thuộc, kể cho nhau nghe những thăng trầm của cuộc đời. Ai uống gì tự trả, hoặc thân quá thì chia đôi một cách nhẹ lòng. Không ai mong chờ sự bao đãi, cũng không ai thấy ngại ngần vì thiếu quà cáp.

Như Tết vừa rồi, tôi rất muốn mời bạn đến nhà dự bữa cơm chiều mồng Một hay ngồi lại bên mâm cơm hóa vàng mồng Ba để hưởng cái không khí Tết xưa của người Hà Nội. Nhưng rồi vì các bạn bận rộn với những lịch trình riêng, những lễ nghi thăm hỏi mà không thành. Thật là một điều đáng tiếc...

Bởi suy cho cùng, chúng ta trở về cốt là để tìm lại chính mình, tìm lại những ký ức gắn bó tại nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Dù diện mạo vật chất có thay đổi nhanh đến thế nào, thì vẫn có những thứ mãi mãi là "vô giá": đó là cái Tình mà không món quà đắt tiền nào có thể mua được.

Gửi những người bạn phương xa: Hãy cứ về khi thấy nhớ, hãy cứ gặp khi thấy thương. Đừng ngại ngần vì mình không mang theo "cả thế giới" trong vali, bởi chỉ cần bạn mang theo nụ cười và sự chân thành, quê hương luôn rộng mở vòng tay đón đợi.

Chỉ cần còn nhớ đến nhau, còn ngồi lại được với nhau, bấy nhiêu thôi đã đủ ấm lòng cho một chuyến trở về.

13/03/2026

Một buổi hát cô đầu giữa cơn khủng hoảng tín dụng

 Dựa trên các tài liệu có được làm cơ sở để chú thích cho bức tranh tôi sưu tầm ở taybui.bloger.com

Âu cũng cũng là góp chút thông tin vậy. 

 

 

Biếm họa đăng trên báo L'Effort Indochinois số ra ngày 29.9.1939. Tranh vẽ cảnh một phòng hát ả đào ở Hà Nội:

Cô đầu và người gẩy đàn đáy ngồi trên phản, chung quanh là những ông khách đang uống rượu và trò chuyện.

Tiêu đề tranh viết: “Khủng hoảng tín dụng đang hoành hành khắp nơi”. Còn dòng chú thích mỉa nhẹ phía dưới nói rằng: “Hiện nay, đây là nơi duy nhất không treo dòng chữ ‘trả tiền ngay’.”

Bức biếm họa nhỏ này phản ánh một lát cắt đời sống đô thị Hà Nội cuối thập niên 1930, khi xã hội thuộc địa vừa chịu ảnh hưởng của khó khăn kinh tế, vừa tồn tại những không gian giải trí đặc trưng của giới thị dân.

***

Tờ L'Effort Indochinois, một tờ nhật báo tiếng Pháp phát hành tại Đông Dương trong những năm cuối thời thuộc địa. Tờ báo này thường đăng các bài bình luận thời sự, kinh tế cùng những tranh biếm họa xã hội phản ánh đời sống đô thị Hà Nội và Sài Gòn dưới góc nhìn của giới trí thức Pháp và tầng lớp thị dân bản xứ biết tiếng Pháp.

Ở góc dưới tranh có chữ ký họa sĩ nhưng khá khó đọc; nét chữ trông giống “Oger” hoặc một bút danh tương tự. Tuy chưa thể xác định chắc chắn tác giả, nhưng phong cách nét vẽ, giản lược, dùng mực đen, nhấn mạnh dáng điệu nhân vật rất gần với lối biếm họa báo chí Pháp phổ biến trong những năm 1930. Kiểu minh họa này cũng chịu ảnh hưởng của truyền thống ghi chép sinh hoạt bản xứ mà các học giả Pháp từng theo đuổi, tiêu biểu như Henri Oger với các bản khắc về đời sống người Việt đầu thế kỷ XX.

23/02/2026

Nếp nhà

Còn có thể viết thêm, nhưng thấy thế là đủ, nên dừng bút đăng bài vậy.

 


 Ảnh nhờ Gemini tạo hộ

  

Đó là một nếp nhà mà tôi vẫn thầm ngưỡng mộ: một gia đình trí thức mang cốt cách “tư sản cũ”, kín đáo và điềm đạm, tuyệt nhiên không phô trương. Trong căn phòng khách trần cao, những bộ đồ gỗ gụ đã lên nước bóng loáng theo năm tháng. Mùi hương trầm thoang thoảng quyện cùng hương trà sen sớm. Chỉ cần bước vào đó thôi, người ta đã hiểu: cái “có học” ở đây không đo bằng bằng cấp, mà hiện hữu trong từng nếp ăn, nếp ở.

Trong nếp nhà ấy, việc thờ phụng tổ tiên là một sợi dây tâm linh bền bỉ, lặng lẽ mà sâu xa. Tôi từng lặng người khi thấy người cha già, tóc đã bạc trắng, vẫn cẩn trọng dùng chiếc khăn lụa mềm lau từng chân nến đồng trước ngày giỗ. Với ông, lòng biết ơn và sự tưởng nhớ tổ tiên không nằm ở những lời nói lớn, mà được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, đều đặn mỗi ngày. Gia đình ấy không cần rao giảng về đạo đức, bởi chỉ riêng hình ảnh người con trai cung kính bưng chén trà bằng hai tay mời mẹ đã là một bài học trọn vẹn về lòng nhân ái và tinh thần hiếu kính.

Sự kỳ công của nếp nhà ấy thể hiện rõ nhất trong những dịp giỗ, Tết. Trên gian thờ nghi ngút khói hương, mâm cỗ dâng cúng luôn là sự hội tụ của tinh hoa và lòng thành. Hoa, đăng, quả, thực theo đúng mùa nào thức ấy; còn các món cúng thì bao giờ cũng phải có bát măng, bóng, miến... là những món truyền thống từ hồi các Cụ không thể thiếu. Những món khác, nếu có thêm, thường là do các cô con gái, con dâu mang về, như một cách đưa hương vị của thời mới hòa vào nếp cũ, mà không làm vỡ đi sự trang nghiêm vốn có.

Nhưng có lẽ, vẻ đẹp bền bỉ nhất lại nằm ở những bữa cơm tối thường ngày. Sau một ngày làm việc, cả nhà xúm xít nấu nướng, chuyện trò. Không cần cao lương mỹ vị, đôi khi chỉ là đĩa rau muống luộc xanh, bát nước rau đánh sấu trong hay đĩa ba chỉ rang cháy cạnh, bát nước mắm vắt chanh, vài lát ớt đỏ cắt vát, bát cà muối vàng chưa ăn đã thấy giòn... Những bữa cơm ấy nuôi dưỡng con người không chỉ bằng thức ăn, mà bằng sự gắn kết và cảm giác được thuộc về.

Trong không gian ấy, sự thân thương diễn ra một cách tự nhiên. Khi một thành viên gặp khó khăn, thay vì lời trách móc, cả nhà lại ngồi bên mâm cơm. Người mẹ thong thả gắp miếng ngon nhất đặt vào bát con. Chính sự bao bọc lặng lẽ ấy giúp mỗi người bước ra đời với một tâm thế vững chãi, không dễ chao đảo trước những xô bồ ngoài xã hội, bởi họ hiểu rằng mình mang theo một danh dự gia đình cần được gìn giữ.

Mỗi dịp lễ Tết, ngôi biệt thự cũ lại rộn ràng tiếng người. Nhìn những đứa trẻ Gen Z hôm nay vẫn hăng hái cùng mẹ học cách tước măng, tẩy bóng, tôi chợt nhận ra: văn hóa cộng đồng không phải điều gì xa xôi. Nó chính là những “mạch nước ngầm” chảy từ những nếp nhà như thế, len lỏi qua từng con phố, bồi đắp nên linh hồn của cả một thành phố.

Khi một gia đình giữ được “nếp”, xã hội sẽ giữ được “gốc”. Và khuôn viên kia, vẻ đẹp của lòng hiếu nghĩa và sự tử tế vẫn đang âm thầm lan tỏa, nhắc nhở chúng ta rằng: giữa một cuộc đời nhiều biến động, chỉ có tình thâm và những giá trị truyền thống mới là điều ở lại sau cùng.

 

18/02/2026

Mồng Hai mới là ngày Tết.

 

Nhờ ChatGPT tạo theo dòng tranh Hàng Trống

 

Nói thật, với tôi, mồng Hai mới là ngày Tết.

Những hôm trước Tết thì bận. Bận một cách quen rồi, năm nào cũng thế. Dọn dẹp, sắm sửa, lo nồi bánh, lo hương khói.

Đến mồng Một, Tết đã vào nhà, nhưng lại là Tết của lễ nghĩa. Mặc áo quần chỉnh tề, thắp hương, đi chúc Tết họ hàng, bề trên. Gặp nhau, hỏi han vài câu quen thuộc, cười nói cho phải phép. Không khó chịu gì, nhưng cũng chả thấy thảnh thơi.

Sáng mồng Hai thì khác. Không ai gọi, không ai giục. Thức dậy muộn hơn một chút cũng chả sao. Ngoài phố an, trong nhà cũng yên. Cái An ấy, người còn đi làm khó mà có được.

Tôi pha ấm trà. Không cầu kỳ gì. Trà quen uống, ấm quen tay. Ngồi nhấp từng ngụm nhỏ, hưởng hương, vị, sắc tự nhiên thấy nhẹ người. Lúc ấy mới thấy mình thật sự đang ở trong Tết, chứ không phải đang “làm Tết”.

Bữa cơm mồng Hai bao giờ tôi cũng thích. Không còn mâm cao cỗ đầy để cúng, chỉ là bữa cơm nhà. Bánh chưng còn lại từ hôm trước, xắt ra ăn vẫn ngon. Miếng bánh dền, đỗ bùi, thịt mỡ béo mà không ngấy. Bát miến, miếng thịt gà, canh măng, canh bóng hâm lại, nước trong, vị vẫn thanh. Ăn chậm, không ai giục, không vội đứng lên.

Ăn xong, ngồi thêm. Uống tiếp chén trà. Nghĩ lan man. Nghĩ về năm cũ đã qua, về mấy người không còn ngồi chung mâm nữa. Cũng không buồn nhiều, chỉ là nhớ. Ở tuổi này, nhớ cũng là một cách sống.

Mai mồng Ba, hóa vàng tiễn các cụ. Xong là Tết vơi dần. Sau đó, ai thích đi đâu thì đi, thích vui kiểu gì thì vui. Nhưng với tôi, cái ngày đáng quý nhất vẫn là hôm nay. Một ngày không phải làm gì cho ai, cũng không phải gồng mình cho đúng vai vế.

Nghỉ hưu rồi mới thấy, cái hay nhất là được sống chậm lại. Ngồi uống trà mà không sốt ruột. Ăn bữa cơm mà không nghĩ đến việc khác. Thấy một ngày trôi qua yên ổn, thế là đủ.

Chỉ mong sao, mỗi người, dù còn bận hay đã nhàn, cũng có cho mình một ngày như thế. Không cần đúng mồng Hai. 

Chỉ cần một ngày thật sự thuộc về mình.

 

11/02/2026

Cái Tôi Và Cái Chợ

Có sự đóng góp của ChatGPT

 

 

Tranh do ChatGPT tạo

 

Tôi quen nó trong một buổi cà phê vỉa hè, cũng lâu rồi, giờ nó lếch thếch ở nơi nào tôi cũng chả hay vì không thấy thấy nó chat. Người Croatia, tên Marko Vuković, tên nghe như cầu thủ bóng đá hạng hai nhưng mặt thì lúc nào cũng vênh như giáo sư kinh tế học.

Nó bảo:

– Tao sang Việt Nam xem kiếm tiền có dễ không.

Tôi bảo:

– Việc của mày liên quan gì đến tao?

Nó nhún vai:

– Tao gốc Do Thái nhưng đek nhận. Chỉ có điều ngoại ngữ tao tiếp thu hơi nhanh. Sang đây ba tháng, giờ tao ra quán nước bàn chuyện vi mô, vĩ mô như đúng rồi, mấy anh xe ôm tít lắm.

Tôi cười:

– Bố phét. Ở quán nước người ta bàn từ lãi suất đến số phận đội tuyển quốc gia, mày theo nổi à?

Nó hất tóc:

– Easy.

Tôi đặt cái bẫy rất nhân đạo:

– Tao đưa mày 50 nghìn. Lên chợ Ngã Tư Sở mua cái áo phông. Phải mặc cả gắt vào. Mua bằng tiền mày, nhưng nếu mọi thứ thuận lợi, không thiệt hại đến thân thể và tinh thần, tao đưa thêm 500 nghìn. Nếu ngược lại, mày phải kể hết những gì xảy ra.

Marko toét miệng:

– Deal.

Rồi nó phắn.

Sau này nó kể lại, ban đầu mọi thứ rất ổn. Nó đi bộ từ Đống Đa lên Ngã Tư Sở, vừa đi vừa lẩm bẩm mấy câu tiếng Việt tự học:

“Bao nhiêu tiền?”

“Đắt quá!”

“Giảm đi chị ơi!”

Đến cổng chợ, nó đứng khựng lại. Chợ không phải siêu thị. Chợ là một thứ sinh vật sống. Nó thở, nó ồn, nó chen lấn, nó có mùi của mồ hôi, vải vóc, thịt cá và tiếng rao.

Marko hít một hơi thật sâu. Nó bước vào như nhà thám hiểm bước vào rừng Amazon.

Quầy áo phông đầu tiên.

– Bao nhiêu tiền cái này?

– 120 nghìn.

Nó lập tức nhớ chiến lược mặc cả mà nó đọc trên mạng:

“Always offer half.”

– 60 nghìn!

Chị bán hàng nhìn nó từ đầu đến chân.

– Tây mà mặc cả ác vậy em?

Marko thấy tim hơi chùng xuống. Nhưng nó cố:

– Đắt quá. 70 thôi.

Chị cười mỉm.

– Thôi đi chỗ khác.

Và thế là Marko bị đá văng ra khỏi vòng đàm phán ngay hiệp một. Quầy thứ hai. Nó tự tin hơn, nói tiếng Việt tròn vành hơn:

– Chị ơi, cái này bao nhiêu?

– 100 nghìn.

– 50 nghìn!

Chị bán hàng tròn mắt:

– Em tưởng đây là chợ trời sao?

Mấy người xung quanh cười ồ. Một bà đứng cạnh góp vui:

– Tây mà trả giá như dân buôn đất.

Marko bắt đầu nhận ra: đây không chỉ là giao dịch thương mại. Đây là đấu trường danh dự. Nó cố thêm vài quầy nữa. Có nơi cười xòa, có nơi lắc đầu, có nơi bảo:

– Thôi em ơi, chị bán lỗ vốn rồi.

Cuối cùng, sau một giờ, nó mua được một cái áo với giá 75 nghìn. Không phải 50 nghìn như kỳ vọng. Nhưng nó kiệt sức tinh thần.

Trưa đó, tôi đang ngồi quán, ăn cơm thì cửa mở đánh “cạch”. Marko lếch thếch vào.

Áo phông mới mặc trên người, nhưng mặt và thân vặn vẹo như người vừa đi qua chiến trường. Nó chỉ vào tôi:

– Mày á… đểu. Mày đúng là dân Việt gốc… quá lưa manh!

Tôi bật cười:

– Sao? Bị chém à?

Nó ngồi phịch xuống.

– Không ai chém tao cả. Nhưng tao hiểu ra một chuyện.

Tôi rót cho nó cốc nước.Nó nói chậm lại:

– Ở Croatia, mặc cả là con số. Ở đây, mặc cả là tâm lý. Là đọc ánh mắt. Là biết lúc nào nên cười, lúc nào nên rút. Tao cứ nghĩ giỏi ngoại ngữ là đủ. Không. Văn hóa mới là thứ khó.

Tôi gật gù:

– Thế thân thể có thiệt hại không?

– Không.

– Tinh thần?

Nó im lặng ba giây.

– Có. Tao bị tổn thương cái tôi.

Tôi cười phá lên.

– Thế kể tiếp đi, tao nghe rồi sẽ đưa mày 500 nghìn, còn bữa này tao mời, được chứ.

Nó ngả lưng ra ghế:

– Tao lang thang thêm một vòng chợ. Thấy một bà cụ bán rau. Không mặc cả. Tao trả đúng giá. Bà cười với tao. Lúc đó tao hiểu: kiếm tiền ở Việt Nam có thể dễ. Nhưng để được người ta coi là “người của mình” thì khó hơn nhiều.

Tôi im một chút. Rồi đưa nó 500 nghìn.

– Vì mày không bị làm sao và vì mày học được bài học.

Marko cầm tiền, cười:

– Tao ở lại thêm một năm.

– Làm gì?

– Học mặc cả… và học làm người Việt.

Tôi nhìn cái áo nó mua may hơi lệch vai. Tôi nói:

– Lần sau tao nâng mức cược lên rồi mày đi chợ Đồng Xuân mua hàng nhé.

Nó tái mặt.

Câu chuyện kết thúc ở đó. Nhưng mỗi lần đi ngang Ngã Tư Sở, tôi vẫn nhớ tới thằng Marko, kẻ từng nghĩ ba tháng là đủ để hiểu một đất nước.

Ở Việt Nam, người ta có thể học tiếng nhanh. Nhưng để hiểu được cái cười trong lúc mặc cả  thì cần nhiều hơn ba tháng.

Cũng là câu chuyện cười thôi nhỉ?