
Giấy bạc Đông dương mệnh giá 100 đồng (ảnh st trên net)
Cái giàu của người Nam Kỳ xưa (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20) thường được gắn với câu "Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa", chỉ 4 người giàu có bậc nhất Sài Gòn và Đông Dương thời bấy giờ. Sự giàu có này mang đậm màu sắc của thời kỳ khai phá đất đai, thương mại phát triển dưới thời Pháp thuộc.
Tiền giấy Đông Dương (piastre) là loại tiền tệ do Ngân hàng Đông Dương (Banque de l'Indochine) phát hành và lưu thông tại các xứ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) từ năm 1885 đến năm 1954 (wikipedia.org).
Năm 1934, gia tộc nhà ông Lê Phát Đạt (ông Huyện Sỹ ông ngoại Nam Phương Hoàng Hậu) gả Nguyễn Hữu Thị Lan về làm hoàng hậu nhà Nguyễn. Cậu hai Lê Phát An tặng cho cháu gái 1 triệu đồng tiền mặt làm của hồi môn ôm theo “dằn mặt”, hoàng gia khi đó rất nghèo, một triệu đồng Đông Dương đương 22.000 cây vàng.
Một triệu đồng Đông Dương bằng 10.000 tờ giấy Xăng (tờ giấy bạc 100 đồng Đông Dương), số tiền này tương đương 22.000 lạng vàng, tính bằng tiền bây giờ cỡ khoảng hơn 30 triệu Đô chứ bao nhiêu chưa kể 100 năm về trước tiền còn có giá biết chừng nào.
Con gái đại gia lấy chồng làm Vua có khác !
Thì ra cái sự giàu có của đại gia Nam Kỳ trong tiểu thuyết nhà văn Hồ Biểu Chánh viết không những có thật mà còn kinh khủng hơn trong truyện.
Người Nam Kỳ xưa có câu “Tiền muôn bạc vạn” chỉ sự giàu sang phú quý của những nhà “giàu nứt vách đổ tường”. Bạc vạn là từ 10.000, bạc muôn là trên 100.000 đồng.
Đồng tiền xưa rất có giá, năm 1925, một mẫu ruộng tốt ở Nam Kỳ có giá 50 đồng, có khi 80 đồng. Được xếp loại “đại điền chủ” thì gia đình đó phải có 50 mẫu ruộng trở lên, vị chi 50 mẫu điền x 50 đồng = 2.500 đồng bạc, hoặc 80 x 50 = 4.000 đồng bạc là gia tài của một đại điền chủ thấp nhất.
Năm 1930 Nam Kỳ có cả thảy 6.690 đại điền chủ có từ 50 mẫu đất trở lên.
Xem truyện của nhà văn Hồ Biểu Chánh ta thấy chưa có ông đại điền chủ nào có tiền mặt trong nhà quá 40.000 đồng. Trong tiểu thuyết “Con nhà giàu” ta thấy cha mẹ cậu Tư, một đại điền chủ có 500 mẫu điền, chết để lại có 25.000 đồng trong tủ. Hồi xưa tiền có giá, chưa có danh từ tỷ phú như bây giờ, chỉ triệu phú là hết mức. Vậy số tiền một triệu đồng của cậu hai Denis Lê Phát An cho bà Nam Phương lớn không thể tưởng tượng.
Chúng ta cũng không quên ông Nguyễn Hữu Hào bà Lê Thị Bính chỉ có 2 cô con gái, ngoài một triệu lận lưng khi lấy chồng, sau đó khi cha mẹ chết bà Nam Phương còn được chia một nửa gia tài của cha mẹ nữa.
Trong Con Nhà Nghèo cậu Ba Cam đi làm Sốp Phơ (Chauffeur) cho Thầy Kiện một tháng đã có 40 đồng Đông Dương coi như là phủ phê lắm rồi vì ở dưới Gò Công thằng Cu đi làm mướn chủ nuôi cả năm chỉ được có ba bốn chục đồng Bạc.
Thầy Thông trong Cô Lý Cô Đào mỗi ngày làm có 1 đồng bạc tháng đi làm chạy 26 đồng mà đã nuôi được vợ con, ngặt sau này vợ con bệnh nên bán chiéc xe máy giá 20 đồng, thầy tiếc không bán vì chiếc xe máy này thầy mua tới 40 đồng tức gần hai tháng lương của thầy. Sau này người ta đem bỏ con thầy lụm về nuôi phát hiện ra 50 tờ giấy bạc từ đó phất lên làm giàu.
Cho nên số tiền này thuở đó là khổng lồ, nếu so sánh với bạc hiện nay, thì số tỷ vẫn chưa vừa, vì tỷ phú ngày nay có hiếm, chớ như hồi năm 1920 tờ giấy xăng (100$) có người trọn đời chưa từng thấy, và giàu bạc muôn, tức trong nhà có được mười ngàn, đã là giàu bạc “nứt đố đổ vách..”
Vậy mới thấy, cái danh xưng "Tiền muôn bạc vạn" của người Nam Bộ xưa không hề nói quá. Giữa một thời đại mà vài chục đồng đã đủ nuôi sống cả gia đình, thì con số một triệu đồng Đông Dương thực sự là một tài sản khổng lồ. Qua những con số ấy, ta càng thấu hiểu hơn cái nền tảng gia thế cực kỳ đồ sộ của Nam Phương Hoàng hậu, một biểu tượng về nhan sắc, trí tuệ và cả sự giàu có tột bậc của Việt Nam đầu thế kỷ 20.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét