10/02/2026

Tranh Tết Hà Nội xưa

 


Bức tranh Hàng Trống do Phạm Đức Sĩ sưu tập

 

Là thị dân, Tết của tôi không có ký ức gắn với nông thôn. Tôi không được chứng kiến cảnh bà con ở quê quét lại vôi tường, thay đôi liễn mới, hay treo tranh Tết sau một mùa vụ khép lại.  

Những gì tôi biết về Tết là qua phố, qua nhà, qua những thứ treo trên tường nó lặng lẽ mà bền bỉ.

Có một thời gian, tôi sống ở vùng cao, giữa cộng đồng người dân tộc thiểu số. Ở đó, Tết không có tranh như ta thường hiểu. Người ta trang hoàng bằng giấy: giấy xanh, giấy trắng, giấy đỏ, giấy vàng. Những tờ giấy mỏng, viết chữ Hán hoặc ký hiệu cổ, được dán từ bàn thờ, vách nhà, cột gỗ, cho đến ngoài sân, cổng và cả khu vườn. Như thể Tết ở đó không nằm trong hình ảnh, mà nằm trong lời cầu và niềm tin.

Hà Nội thì khác.

Ít nhất là trong ký ức của tôi, Hà Nội những năm 1980–1990 trở về trước, Tết hiện ra rất rõ trên tường nhà. Không cần hỏi cũng biết: tranh Hàng Trống. Treo ở gian giữa, nơi trang trọng nhất, nơi người ta tiếp khách đầu năm, thắp nén hương đầu tiên, nhấp chén trà, nếm hạt mứt sen, mứt bí hay miếng bánh cốm cùng nhau cung chúc Tân Xuân.

Không ồn ào. Không phô trương. Nhưng hễ bước vào nhà là thấy Tết. Nhất là đôi tranh Lý ngư vọng nguyệt. Cá chép nhìn trăng với khát vọng năm mới vươn lên hơn năm trước.

Treo tranh ngày Tết, người Hà Nội xưa không hẳn mong giàu sang rực rỡ, mà mong yên ổn, thăng tiến, và thanh sạch.

Tranh Tết ở Hà Nội không kể chuyện mùa màng như tranh Đông Hồ, cũng không thuần là bùa chú như giấy Tết vùng cao. Nó đứng ở khoảng giữa: vừa thờ, vừa chơi; vừa lễ, vừa mỹ. Đó là cái Tết của phố thị nhưng vẫn cần một khoảng lặng để nhìn lại mình.

Ngoài tranh, Tết Hà Nội xưa còn có chữ.

Chữ xin từ ông đồ, viết trên giấy đỏ, treo hai bên cột, trên xà nhà, hoặc dán cạnh bàn thờ. Không cần cầu kỳ, chỉ vài nét mực đen, nhưng treo lên là thấy Tết đã về. Chữ ấy không chỉ để đọc, mà để giữ nếp: giữ lời răn trong nhà, giữ điều mong ước cho cả năm.

Có nhà xin chữ Phúc, chữ Lộc, chữ Thọ; có nhà xin câu đối: nói về hiếu – lễ, về học – làm, về yên ấm trong gia phong. Câu đối đỏ đứng bên tranh Hàng Trống, chữ và hình nương nhau, làm nên cái Tết rất riêng của Hà Nội: Tết của lễ nghĩa và cái đẹp.

Nếu tranh treo để ngắm, thì câu đối treo để nhớ. Nhớ điều nên giữ, điều nên làm, và điều nên tránh khi bước sang một năm mới.

Rồi thời gian trôi đi. Nhà cửa thay đổi. Phố xá đổi nghề. Tranh Hàng Trống dần biến mất khỏi những bức tường ngày Tết. Người ta treo lịch, treo ảnh in sẵn, rồi sau nữa là không treo gì cả mà trưng những thứ khác.

Tết vẫn đến, vẫn đủ đầy, nhưng hình như thiếu đi một lớp ký ức treo lên được, nhìn thấy được.

Có thể vì thế mà hôm nay, khi nhắc đến tranh Tết, nhiều người vẫn nhớ Đông Hồ như một di sản, nhưng lại nhớ Hàng Trống như một hoài niệm. Một thứ đã từng rất quen với Hà Nội, đến mức khi mất đi, người ta không kịp gọi tên nỗi nhớ của mình.

Với tôi, tranh Tết không chỉ là vật trang trí. Nó là cách mỗi cộng đồng nói với mùa xuân theo cách riêng của mình:  Nông thôn nói bằng tiếng cười dân gian; vùng cao nói bằng giấy và chữ, gửi gắm niềm tin; thì Hà Nội xưa nói bằng tranh, bằng cái đẹp lặng lẽ treo trên tường.

Và có lẽ, chừng nào còn người nhớ, còn người viết, còn người treo lại một bức tranh cũ mỗi độ Tết về, thì tranh Tết dưới dạng này hay khác vẫn chưa thật sự mất.

Âu cũng chỉ là viết về miền xưa vậy.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét