22/07/2014

CHÙA KEO THÁI BÌNH
Hay còn gọp là chùa Keo Duy Nhất

Chùa Keo (tên chữ: Thần Quang tự 神光寺) là một ngôi chùa ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Việt Nam. Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn kiến trúc 400 năm tuổi.
Tương truyền, nguyên thủy chùa do Thiền sư Dương Không Lộ xây dựng ở ven sông Hồng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông, tại hương Giao Thủy, phủ Hà Thanh (nay thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định). Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang tự, đến năm 1167 mới đổi thành Thần Quang tự. Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi là chùa Keo.
Sau gần 500 năm tồn tại, năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập làng Giao Thủy, nơi có chùa. Một bộ phận dân cư dời đi nơi khác, lập thành làng Hành Thiện, xây dựng nên ngôi chùa Keo mới, thường được gọi là chùa Keo Dưới (Keo Hạ) hay chùa Keo Hành Thiện (nay ở xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, Nam Định). Một bộ phận dân cư dời sang tả ngạn sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ trên đất Thái Bình và cũng dựng lên một ngôi chùa, gọi là chùa Keo Trên (Keo Thượng), chính là ngôi chùa Keo đang nói tới ở đây.
Công việc xây dựng ngôi chùa Keo Thượng được bắt đầu từ năm 1630 và hoàn thành vào năm 1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ hầu Hoàng Nhân Dũng và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ. Chùa do Cường Dũng hầu Nguyễn Văn Trụ vẽ kiểu, phỏng theo kiến trúc của chùa Keo Hành Thiện. Sau khi xây dựng xong, chùa được trùng tu nhiều lần, vào các năm 1689, 1707, 1941... Lần trùng tu năm 1941, có sự giúp đỡ của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp.
Văn bia và địa bạ chùa Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng khoảng 58.000 , gồm nhiều ngôi nhà làm thành những cụm kiến trúc khác nhau. Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc".
Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25 m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa, cao 2 m, rộng 2,6 m, chạm một ổ rồng với rồng mẹ và rồng con, chầu mặt nguyệt. Nếu đôi cánh cửa ở chùa Phổ Minh tiêu biểu cho kiến trúc đời nhà Trần thì đôi cánh cửa chùa Keo tiêu biểu cho kiến trúc đời nhà Lê.
Qua tam quan, đi tiếp vào chùa, gặp ở hai bên 24 gian hành lang là khách hành hương sắm lễ vào Chùa lễ Phật và lễ Thánh.
Đi đến phần chùa thờ Phật, gồm ba ngôi nhà nối vào nhau. Ngôi nhà ở ngoài, gọi là chùa Hộ, ngôi nhà ở giữa gọi là ống muống và ngôi nhà trong là Phật điện. Đặc biệt ở đây có tượng Thích Ca nhập Niết bàn, tượng Bồ Tát Quan Âm Chuẩn Đề đặt giữa tượng Văn Thù Bồ Tát  Phổ Hiền Bồ Tát. Toàn bộ khu thờ Phật của Chùa Keo có gần 100 pho tượng.
Chùa ngoài thờ Phật, còn thờ Không Lộ - Lý Quốc Sư. Toàn bộ công trình đều làm bằng gỗ lim và là nơi được các nghệ nhân điêu khắc thời nhà Hậu Lê chạm khắc rất tinh xảo.
Sau khu thờ Phật là khu thờ thánh. Tại hội chùa Keo, sau khi đã có những nghi lễ như mọi hội chùa khác, thì diễn ra trò chơi kéo nứa lấy lửa, nấu xôi, nấu chè và nấu cơm chay để mang cúng Thánh. Phía ngoài có một giếng nước. Thành giếng xếp bằng 36 cối đá thủng đã từng dùng giã gạo nuôi thợ xây chùa từ xưa.
Đáng kể và tiêu biểu nhất ở đây là kiến trúc tòa gác chuông chùa Keo. Gác chuông chùa Keo là một kiến trúc đẹp, cao 11,04 m, có 3 tầng mái,kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau. Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng. Gác chuông được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn. Ở tầng một có treo một khánh đá cao 1,20 m. Tầng hai có quả chuông đồng lớn đúc năm 1686 cao 1,30 m, đường kính 1 m. Hai quả chuông nhỏ treo ở tầng ba và tầng thượng cao 0,62 m, đường kính 0,69 m đều được đúc năm 1796.
Hai hành lang chạy dài từ chùa Hộ nối với nhà tổ và nhà trai sát gác chuông, bao quanh toàn bộ chùa.
Đến thăm chùa, ta có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà tương truyền rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.
Trải qua gần 400 năm tu bổ, tôn tạo, chùa Keo vẫn giữ nguyên bản sắc kiến trúc độc đáo của mình. Gác chuông với bộ mái kết cấu gần 100 đàn đầu voi là viên ngọc quý trong gia tài kiến trúc Việt Nam. Bộ cánh cửa chạm rồng là bộ cửa độc đáo của cả nước. Chùa còn bảo lưu được hàng trăm tượng Pháp và đồ tế thời Lê. Có thể nói Chùa Keo là một bảo tàng nghệ thuật đầu thế kỷ 17, với nhiều kiệt tác đặc sắc.
Hằng năm vào ngày mùng 4 tháng giêng Âm lịch, nhân dân làng Keo lại mở hội xuân ngay ở ngôi chùa mang tên làng.
Hơn chín tháng sau, vào các ngày 13, 14, 15 tháng 9 Âm lịch, chùa Keo lại mở hội mùa thu. Đây là hội chính, kỷ niệm 100 ngày Thiền sư Không Lộ (1016-1094), người sáng lập ngôi chùa, qua đời (ngày 3 tháng 6 Âm lịch).
Trong ngày hội, người ta tổ chức lễ rước kiệu, hương án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh. Trong chùa thì có cuộc thi diễn xướng về đề tài lục cúng: hương, đăng, hoa, trà, quả, thực, thật sinh động.
Có câu ca dao về hội chùa Keo:
Dù cho cha đánh mẹ treo,
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.
 Chùa keo Duy nhất là ngôi chùa cổ lớn nhất Việt Nam cho đến đầu thế kỷ 21, tính về số gian: 17 tòa, 128 gian trên diện tích 5,8ha. Chùa có kiến trúc cao rộng chứ không thấp, tối như nhiều chùa cổ khác. Vì thế những tòa chính điện to bằng cỡ những tòa đại đình.
Chùa cũng có những chạm khắc tinh xảo và giàu sức sống. Chùa nằm ở cạnh đê sông Hồng, xung quanh là ba bốn nhà thờ. Chùa có lớp lang theo lối tiền Phật hậu Thánh, thờ Sư Không Lộ (Nguyễn Minh Không), ông tổ nghề đúc đồng Việt Nam.
  
chua keo1

   Tam quan nội, chùa có hai tam quan, bên ngoài là một tòa kiểu chữ nhất mái cong không xây tường bao. Tam quan nội có vẻ đẹp bình dị, lại gần thì rất xinh xắn do tỉ lệ cân đối. Sinh viên kiến trúc khi học môn cơ sở kiến trúc có một bài vẽ mặt bên tam quan này. Hai bên tam quan còn có hai cửa ngách xây bằng gạch

chua keo2

   Cánh cửa tam quan nội, đây có lẽ là cánh cửa đẹp nhất trong số các cánh cửa kiến trúc cổ Việt Nam. Chủ đề chính chỉ là hai con rồng nhưng những trang trí lửa hóa long, sóng nước và vân mây sinh động làm cho tấm gỗ như gấm. Thêm vào nữa là cánh cửa khá lớn (cao 2m), mặc dù nhìn từ xa thì tòa tam quan không lớn lắm. Cánh cửa này gần đây được đền Đô copy lại làm cửa tam quan mới.

chua keo3

   Sau tam quan nội là đến một bãi rộng, rồi đến tiền đường. Tòa nhà năm gian hai chái to như cái đình, hai bên là giải vũ. Vẻ nhịp nhàng và hoàn thiện của các tòa nhà khiến chùa Keo trông rất bõ công để thăm viếng.

chua keo4

   Hai tấm bia ở hai bên tòa tiền đường là hai tấm bia tuyệt đẹp với chạm khắc lộng lẫy cả bốn diện. Đặc biệt, bia đứng trên những cánh sen xếp lớp thay vì rùa.

chua keo5

   Trên mỗi cánh sen lại có hoa văn tinh xảo, thời gian làm mòn đi nhiều nhưng vẫn thấy vẻ tuyệt tác.

chua keo6

   Tòa trung đường lại theo lối không có mái đao mà hai đầu hồi lại có giá kèo hai tầng (gọi là giá roi). Những chống chéo ở đây có lẽ làm cho hệ bảy hiên vuông góc đỡ cứng. Chú ý là ngày xưa dùng đinh sắt có mũ hình bông hoa thị (những cái đinh đóng ván gỗ diềm đầu hồi). Công trình vừa mộc mạc nhưng lại "ăn chơi" - những chỗ "mềm" của kết cấu gỗ đều có trang trí chạm khắc. Trong khi đó, song cửa đơn giản với hàng song đan mau và vách bưng ván lụa âm dương. Vì thế vẻ đẹp có sự tự hào của kẻ biết chơi.

chua keo7

   Những cái chống chéo rất công phu, và những tầng tầng lớp lớp khối gỗ kê lên nhau cho thấy dựng được cái mái này là cả một nghệ thuật. Vì những khối gỗ khá to, chứ không chẻ nhỏ như mái của Tàu. Nhìn lại gần mới thấy những song cửa cũng không vuông đơn thuần: ở đoạn giữa, chúng được bào vát lượn góc cho nhỏ lại.

chua keo8

   Tòa thiêu hương, kiến trúc cổ nằm giữa cây xanh nên mang vẻ rất thanh nhàn. Tổ hợp trang trí trên mái nhuần nhuyễn và buông mảng lớn cho diện mái và tường vách gỗ bên dưới.

chua keo9

   Tiếc là không còn lưu đủ ảnh để làm ví dụ, nhưng ở trong chùa có những góc nhỏ xinh thế này. Không hoa mỹ bằng Bút Tháp nhưng có cái vẻ khỏe mạnh của nét đơn giản.

chua keo10

   Không Lộ thiền sư sinh năm 1065, là Quốc sư nhà Lý. Nhiều nơi thờ, trong đó có đền Lý Triều Quốc Sư ở phố Lý Quốc Sư và chùa Thần Quang, Ngũ Xã, Hà Nội. Chùa Thần Quang này có pho tượng đồng A Di Đà to nhất VN, cao 4m, nặng 12,3 tấn. Làng Ngũ Xã trước đây nổi danh đúc đồng, giờ thường người ta phải về Đồng Xâm, Thái Bình để đúc. Ai nghe bài Nắng ấm quê hươngcủa Vũ Thanh chắc cũng biết câu: Cho anh về quê mình, cùng làm lúa cùng trồng đay, cùng dệt cói cùng đan mây. Tay em chạm vàng, tay em khảm bạc, làm giàu cho quê hương, Thái Bình ta đó, mà lòng anh yêu thương... Làm giàu thật. Đúc chuông bây giờ đang cực đắt hàng. Mỗi quả chuông cao 70cm có giá chừng chục triệu. Còn loại khổng lồ đua nhau lớn nhất VN thì khỏi nói. Nhưng quan trọng là đúc xong, đánh phải kêu.

chua keo11

   Cũng tượng La Hán, nhưng ở chùa Keo có vẻ không sôi động lắm. Trông ông kia mới chán đời chứ.

chua keo12

   Gác chuông chùa Keo được xem như điểm nhấn của quần thể, đóng lại không gian chung. Những kết cấu gỗ chồng rường dưới mái có ảnh hưởng của kiến trúc Trung Quốc, Nhật Bản, nhưng ở đây các đầu dư thưa hơn, tạo thành các cụm. Độ cong của mái đao vẫn là kiểu Việt Nam, cong nhờ tầu mái và ở phần giữa vẫn dốc đều chứ không cong toàn bộ như hai nước kia. Những đầu dư vươn ra cũng tranh thủ uốn cong, làm cho các góc giao nhau như bông hoa nở. Chùa Bối Khê cũng có gian hậu cung kết cấu mái chồng rường giống thế này. Nhưng gác chuông chùa Keo với độ cao của nó thì chưa có chùa nào gây ấn tượng bằng. Thêm nữa, trang trí chạm khắc gỗ rất hoa mỹ mà không sơn phết khiến kiến trúc này tựa như một công trình điêu khắc từ một khối thô mộc - những ai hâm mộ kiến trúc thô mộc và biểu hiện sẽ kết loại này.

chua keo13

chua keo14

   Hai bức ảnh này chụp hồi năm 2006, khi đó người ta đang sửa. Những công phu thế này phản ánh một đặc điểm của người Việt xưa: những gì đẹp đẽ tài hoa đều chỉ nhỏ xinh và vừa vặn. Tôi khó lòng tin rằng những tính từ mô tả "cao vài trăm trượng tới mây xanh", "tháp ngọc lưu ly, cung vàng điện ngọc san sát" là tả thứ có thực hoặc đẹp hơn thế này. Dễ hiểu bởi vì kết cấu gỗ phụ thuộc cây gỗ, vốn cũng chỉ dựng được những tòa đại đình vài gian hàng ngang là kịch kim, cũng như chiều cao hai ba tầng là hiếm hoi thấy xuất hiện. Thêm nữa, gần như thế kỷ nào cũng có loạn lạc, chiến tranh, con người không thể yên ổn mà làm nổi những gì to lớn hơn cái đã có. Cửu Trùng Đài với Vũ Như Tô là một câu chuyện đáng buồn cho tham vọng của người Việt.

chua keo15

   Kết cấu gỗ ghép khít vào nhau, nhưng vì thế mà trong lòng gác chuông khá tối và thấp. Người ta đã trùng tu dùng ngói chiếu có hình ngôi sao - là ngói bây giờ. Sao không dùng cái ngói nào có hình hoa gì mà lại là ngôi sao, tân kỳ thế?

chua keo16chua keo17

   Nhiều người thắc mắc: đã mất công làm gác chuông đẹp thế mà sao bên trong lại chật, thấp và cầu thang khó leo thế. Chú ý là đến con kê thanh xà treo chuông ở dưới cũng chạm hoa văn. Rất trau chuốt.

chua keo17

   Gác có hai quả chuông, qủa chuông to và dáng hơi khum này có hẳn một bài minh dài. Chuông cao phải đến 2,5m (so sánh với chân người mặc quần bò bên dưới).

chua keo18

   Trên tầng 3. Rất thấp nên chỉ có thể ngồi khom khom. Qủa chuông này nhỏ hơn.
   Phía sau gác chuông, là khu vực nhà Tổ và nơi ở của sư sãi. Những công trình này mới xây, hoàn toàn không có gì đáng kể so với những gì phía trước.

17/07/2014


"Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc


Hồn bay lên hóa linh khí Quốc gia" 



Đây là câu của bác C16 bên trang Quân sử Việt Nam, thấy hợp quá đem về treo lên.

Hóa ra mấy thằng lính già như tụi mình vẫn còn máu gớm:

Tổ quốc gọi chúng con sẽ lên đường ngay.

14/07/2014

Nên chọn dầu ăn loại nào cho sức khỏe?

   Nhiệt độ rán xào từ 140 – 200 độ C. Dầu đậu nành, dầu olive, dầu mè, dầu đậu phộng, dầu cọ… đều có thể dùng để chiên ngập dầu, nhưng mức độ “lành mạnh” của những loại dầu này khác nhau và độ bốc khói cũng khác nhau.
Dầu zin vẫn hơn dầu tinh khiết
     rước tiên cần phân biệt hai loại dầu ăn: dầu chiết xuất kiểu cơ học (mechanical extraction) và dầu tinh luyện (refined oil).
   Nhà sản xuất dầu ăn luôn khai báo trộn những loại dầu nào, người dùng phải tuyệt đối tin tưởng (vì phân tích hoá bó tay), miễn sao axít béo tự do, chỉ số iod, chất béo no và không no khai đúng là phúc lớn lắm rồi.
     Dầu chiết xuất kiểu cơ học dùng cách chà, ép, đùn các hạt chứa dầu để chế biến ra dầu ăn. Dầu sản xuất kiểu “thô sơ” này còn giữ hương vị tự nhiên của dầu. Các nước phát triển chuộng dầu ăn loại này. Dầu olive chiết xuất kiểu cơ học có hai loại: extra virgin và virgin. Cả hai loại đều còn… zin, không táy máy hoá chất hay nhiệt vào dầu, hương vị thơm ngon, thường để trộn salad, ăn sống… Loại extra virgin có độ axít tự do thấp hơn (0,8%) loại virgin (1,5%), nên chất lượng loại extra cũng tốt hơn.
     Dầu tinh luyện (refined) hay dầu tinh khiết (pure) nghe sướng tai, nhìn đẹp mắt nữa (vì trong, không vẩn cặn), nhưng không bằng dầu chiết xuất kiểu cơ học về mùi vị và dinh dưỡng… Dầu tinh luyện phải qua nhiệt, chiết xuất bằng dung môi (hoá chất), rồi khử màu, khử mùi, lọc… Bởi thế, gọi là tinh luyện hay tinh khiết nghe cũng… có lý (chơi chữ hay đến thế là cùng!).
     Vì phải dùng tới nhiệt, hoá chất, nên trong quá trình tinh luyện, vitamin E có tự nhiên trong dầu thất thoát rất nhiều. Vitamin E ngoài tác dụng sinh học, còn được xem là chất bảo quản (tự nhiên) chống ôi dầu. Thế nên dầu tinh khiết hay tinh luyện gì đó khó lòng thoát khỏi cảnh “bổ sung” chất bảo quản.
     Nhưng dầu tinh luyện cũng có cái… hay, nhờ tinh luyện nên loại bỏ được khá nhiều axít béo tự do có trong dầu, nên điểm bốc khói của nó khá cao, thích hợp để rán ngập dầu. Thí dụ, điểm bốc khói của dầu đậu nành “zin” là 160 độ C, nhưng sau tinh luyện lên tới 238 độ C. Dầu ăn ở thị trường trong nước đa số là dầu tinh luyện.

Dùng loại dầu nào để rán ngập dầu?

     Dầu đậu nành, dầu olive, dầu vừng, dầu đậu phộng, dầu cọ, dầu dừa đều thích hợp cho việc ránn ngập dầu. Dầu cọ, dầu dừa thì nhiều người không thích vì có nhiều chất béo no (không tốt cho tim mạch). Dầu đậu nành tuy nhiều chất béo không no, nhưng chính vì không no quá nhiều (polyunsaturated) nên chưa cần tới điểm bốc khói đã phát sinh nhiều thứ không hay ho gì như peroxides, gốc tự do, tự trùng hợp... nên dầu chiên rồi xài lại không tốt.
     Dầu olive cũng có loại tinh luyện, thường gọi là dầu olive pure, rẻ hơn hai loại extra virgin và virgin nhiều. Dầu olive pure cũng thường được dùng để rán ngập dầu.
     Trên thị trường còn có loại dầu “cooking oil” chuyên để chiên xào. Dầu này là hỗn hợp nhiều loại dầu trộn lại, sao cho có điểm bốc khói cao, no hay không no đều đủ cả, tuổi thọ lâu hơn, dùng đi dùng lại 2 – 3 lần cũng không quá tệ… Đại gia dầu ăn khai báo trộn những loại dầu nào, người dùng phải tuyệt đối tin tưởng (vì phân tích hoá bó tay), miễn sao axít béo tự do, chỉ số iod, chất béo no và không no khai đúng là phước lớn lắm rồi. Chiên ngập dầu nên dùng loại dầu này.

Dầu để xào và trộn

     Nếu xào hoặc trộn salad nên dùng dầu đậu nành, đậu phộng vì có nhiều chất béo không no.
     Dùng dầu olive virgin để xào hay trộn thì quá tốt. Dầu olive có nhiều chất no đơn (monounsaturated) được đánh giá tốt hơn về mặt sức khoẻ so với loại chất béo no nhiều nối đôi (polyunsaturated) ở dầu đậu nành. Cũng lưu ý, khi rán xào nên điều chỉnh ngọn lửa vừa phải, tránh để dầu bốc khói. Dầu đã từng bốc khói, bảo quản sẽ kém, dễ bị ôi dầu, dùng lại không tốt.

TuanLong nhắc nhở nhỏ các bà nội trợ.

09/07/2014

Chỉ 3 tháng, chữa khỏi đau dạ dày 

bằng bài thuốc từ cây Dạ cẩm



Cây Dạ cẩm

Tên gọi: Dạ cẩm, Loét mồm, Ngón lợn. Dây ngón cúi, Chạ khẩu cắm - Hedyotis capitellata Wall. ex G. Don var. mollisPierre ex Pit., thuộc họ Cà phê - Rubiaceae.
Mô tả: Cây thảo leo bằng thân quấn; cành vuông rồi tròn, phình to ở các đốt, có lông đứng. Lá có phiến hình trái xoan thon, chóp nhọn, đáy hơi tròn; gân phụ 4-5 cặp; mặt trên xanh nhẵn bóng, mặt dưới nhạt màu và có lông mềm; cuống lá 3-5mm; lá kèm có lông và 3-5 thuỳ hình sợi. Cụm hoa chuỳ ở ngọn và nách lá, mang tán tròn; mỗi tán mang 6-12 hoa màu trắng hoặc trắng vàng. Quả nang 1,5-2mm, chứa nhiều hạt rất nhỏ.
Mùa quả tháng 5-7.
Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất - Herba Hedyotidis.
Nơi sống và thu hái: Cây mọc hoang rất nhiều ở vùng rừng núi từ Lạng Sơn tới Khánh Hoà, Kontum, Lâm Đồng và Đồng Nai. Gặp nhiều trên đất sau nương rẫy bỏ hoang. Nguồn dược liệu trong tự nhiên rất dồi dào. Thu hái quanh năm; chọn những dây có nhiều lá, rửa sạch, chặt thành đoạn 5-6cm, phơi hay sấy khô.
Thành phần hoá học: Toàn cây chứa alcaloid, tanin, saponin, anthraglycosid.
Tính vị, tác dụng: Dạ cẩm có vị ngọt hơi đắng, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, làm dịu cơn đau, tiêu viêm, lợi tiểu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Từ những kinh nghiệm dân gian của đồng bào Tày sử dụng cây Chạ khẩu cắm mà ta gọi tắt là Dạ cẩm, để chữa bệnh đau dạ dày; qua những thí nghiệm từ năm 1962, người ta đã chữa bệnh loét dạ dày với tác dụng làm giảm đau, trung hoà acid trong dạ dày, bớt ợ chua, làm vết thương loét se lại, ta đã chế dạng thuốc gọi là Cao Dạ cẩm bán ra thị trường vào năm 1963. Người ta dùng lá Dạ cẩm khô 7kg, đường kính 2kg, mật ong 1kg. Nấu lá Dạ cẩm với nước thành 8kg cao, cho vào 2kg đường và đánh tan còn 9kg, cuối cùng thêm 1kg mật ong. Cao có màu nâu đen, vị hơi đắng và có mùi lá cây. Đóng thành chai 250ml. Ngày uống 2-3 lần, trước khi ăn hoặc khi đau, mỗi lẫn 1 thìa to.
Cũng có thể chế thành cốm: Bột lá khô Dạ cẩm 7kg, Cam thảo 1kg, đường kính 2kg, hồ nếp viên đủ làm thành cốm. Ngày uống 2 lần trước bữa ăn hoặc khi đang đau, mỗi lần 10-15g, trẻ em dưới 15 tuổi: 5-10g. Ngoài việc dùng chữa loét dạ dày, Dạ cẩm còn được dùng chữa loét miệng lưỡi và chữa các vết thương. Cũng dùng phối hợp với các vị thuốc khác như Cỏ bạc đầu, lá Răng cưa, giã đắp trị đau mắt; hoặc phối hợp với vỏ Đỗ trọng nam chữa bong gân.
Đơn thuốc:
1. Chữa loét dạ dày, ợ chua: Dùng 20-40g Dạ cẩm, dạng thuốc sắc thuốc hãm, bột hay cao, chia 2 lần uống lúc bị đau hoặc trước bữa ăn.
2. Chữa lở loét miệng lưỡi: Dùng cao lỏng Dạ cẩm trộn với mật ong, bôi hàng ngày.
3. Chữa vết thương, làm chóng lên da non: Dùng lá Dạ cẩm tươi giã đắp.
Từ mấy chục năm nay, người dân ở thôn Cua Chu, xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì (Hà Nội) không còn phải lo lắng về căn bệnh dạ dày bởi đã có một thầy thuốc “khắc tinh” với căn bệnh này.
Đó là Lương y Nguyn Tư Lê (SN 1932) tng là Hi trưởng Hi Đông y ca xã và đến nay đã tri qua 50 năm dày công nghiên cu các v thuc Nam. Vi bài thuc cha d dày đc bit vi thành phn ch yếu là cây d cm, Lương y Nguyn Tư Lê đã giúp rt nhiu người thoát khi căn bnh này.
Sẵn sàng bốc thuốc không lấy tiền
Nghe thông tin v v lương y này đã lâu, nhưng cũng phi mt vài cuc đin thoi cho ông đ hn gp, chúng tôi mi nhn được li đng ý. Bi ông bo: “Đây là bài thuc gia truyn ca gia đình tôi t nhiu đi nay, tiếp ni ông cha, tôi cũng ch mun góp sc nh bé cho bà con li xóm thôi, có gì đáng viết đâu”.
Ngôi nhà mái bng cũ k ca lương y Nguyn Tư Lê nm sâu trong thôn Cua Chu, khi chúng tôi ti, trong nhà ông vn còn my bnh nhân đang ch ti phiên ly thuc. Ông Lê thì đang lui cui bc thuc cho người bnh. Dù đã bước sang tui 82 nhưng nhìn ông vn còn nhanh nhn và rt minh mn.
Sau khi đã tin tt c các bnh nhân v, ông chm rãi: “Gia đình tôi theo ngh này đã 4 đi, bn thân tôi cũng đã làm ngh 50 năm. Cũng may là ông tri ban cho mình sc khe tt. Có nhiu người cùng trang la, ngh nghip mà ch sau chc năm lên rng thì sc cùng, lc kit, y thế mà tôi vn lun rng, li sui tìm tho dược chng kém cnh gì cánh trai tráng. Sang năm nay thì sc khe ca tôi đã yếu đi nhiu. Vy nên mi công vic tôi bt đu giao li cho đa con trai th 4. Cũng may là còn có đa con mun kế tc bài thuc gia truyn ca t tiên, ch không tôi có sang thế gii bên kia cũng không yên lòng”.
Lt tng trang giy ghi cn thn tng đa ch, tên tui, bnh án ca bnh nhân, lương y Nguyn Tu Lê cho biết, đến gi ông cũng không th nh hết mình đã cha thành công được cho bao nhiêu bnh nhân na. Ch biết rng năm nào cun s ghi sanh sách người bnh ca ông cũng được thay bng cun s mi, và người bnh tìm đến vi ông thì đ c. Người trong vùng cũng có, người Hà Ni, Ngh An, Hi Phòng... thm chí có bnh nhân tn TP. HCM cũng bay ra tìm ông nh cha tr. Nhiu người khó khăn không có điu kin gp ông, thì có th gi đin nói rõ bnh án, ông s bc thuc và gi đến tn nơi.
Lương y Nguyn Tư Lê cho biết, ngh bc thuc ca gia đình ông được bt ngun t đi bà ni. Vn xut thân là người gc vùng người Mường huyn Kim Bôi, tnh Hòa Bình. Được biết, ngày t khi còn là mt cô gái Mường xinh xn, bà ni ca lương y Lê đã biết ly cây thuc đ cha bnh cu người. Sau khi di cư và ly chng v vùng núi Tn Lĩnh, thy trên núi Tn có nhiu cây thuc quý, và người dân trong vùng vì nghèo đói không có tin đi bnh vin cha tr nên bà quyết theo nghip bc thuc Nam đ cu giúp mi người.
Trao đi v bài thuc cha bnh d dày ni tiếng ca lương y Nguyn Tư Lê, lương y Khut Duy Nga, trưởng khoa Đông Y xã Tn Lĩnh cho biết: “Ông Nguyn Văn Lê là mt trong nhng người tiên phong trong phong trào dùng cây thuc Nam đ cha bnh đa phương. Ông tng 10 năm làm Hi trưởng Hi Đông y ca xã và vi bài thuc gia truyn 4 đi, nht là bài thuc đc tr bnh d dày đã giúp cho nhiu bnh nhân khi bnh. Vi nhng đóng góp ca mình trong vic nghiên cu các bài thuc Nam, năm 1995 ông Lê đã được phong danh hiu là Thy thuc, lương y Nguyn Tư Lê. Chúng tôi cũng hy vng rng, vi nhng công dng hiu qu trong điu tr bnh d dày, bài thuc ca lương y Nguyn Tư Lê s sm được nhiu người trong c nước biết đến và tin dùng.