Nước muốn Giàu Mạnh thì Phải có lương thực dồi dào (dân không đói), Hàng hóa dư thừa (dân không thất nghiệp - có thu nhập - Quốc gia có thuế) và quân nắm chặt tay súng.
14/05/2021
28/04/2021
18 đời vua Hùng
Lý
giải tại sao 18 đời Vua Hùng lại kéo dài những 2622 năm. Vậy Việt Nam ta đã có gần 5.000 năm lịch sử ư ?
Nguyên nhân của việc này chính là do cách gọi.
Gọi
không đúng dẫn đến hiểu sai. Lẽ ra phải gọi là 18 chi thời Vua Hùng, không phải
là 18 đời. Mỗi chi có nhiều đời vua, vì vậy thời Hùng Vương mới kéo dài trên
2600 năm.
Ví
dụ, chi Khôn: Hùng Chiêu Vương. Chi này có 5 đời vua đều xưng là Hùng Chiêu
Vương, ở ngôi 200 năm, từ năm Canh Tuất ( 1631 TCN) đến Kỷ Tỵ (1432 TCN).
Có
một chi tiết đặc biệt nữa là Kinh Dương Vương sinh năm 2919 trước công nguyên,
lên ngôi lúc 41 tuổi, vào năm 2818 TCN, nghĩa là gần 3.000 năm TCN. Như vậy đến
nay nước ta có gần 5.000 năm lịch sử, không phải 4.000 năm như vẫn nghe.
Xin gửi tới các bạn bài báo "Tìm hiểu 18 chi đời Hùng Vương" của tác giả Nguyễn Duy Chiến Thắng, đăng trên tờ Tin Tức (VNTTX) tháng 2/2000
Nội
dung chính của bài báo như sau:
Nhà
sử học Biệt lam Trần Huy Bá cùng các cộng sự đã sưu tầm các truyền thuyết và
thư tịch cổ về các Ngọc phả của các xã quanh vùng có đền thờ Vua Hùng, lưu giữ
tại Vụ Bảo tồn, Bảo tàng Bộ VHTT (số hiệu HT.AE9). Các tài liệu không chép là
18 đời Vua Hùng mà ghi là 18 chi. Mỗi chi gồm nhiều đời vua. Các đời vua trong
một chi cùng lấy hiệu của vua đầu chi.
1. Chi Càn
Kinh
Dương Vương, huý Lộc Tục, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 trước Công nguyên), lên ngôi
năm 41 tuổi, không rõ truyền mấy đời vua, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất
(2879 TCN) đến năm Đinh Hợi (2794 TCN). So ngang với thời đại Tam Hoàng (?)
2. Chi Khảm
Lạc
Long Quân, huý Sùng Lãm tức Hùng Hiển Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 TCN), lên
ngôi năm 33 tuổi, không rõ truyền mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 269 năm đều
xưng là Hùng Hiển Vương, từ năm Mậu Tý (2793 TCN) đến năm Bính Thìn (2525 TCN).
Ngang với Trưng Quốc vào thời Hoàng Đế (Ngũ đế).
3. Chi Cấn
Hùng
Quốc Vương, huý Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 TCN), lên ngôi năm 18 tuổi,
không rõ truyền mấy đời vua, đều xưng là Hùng Quốc Vương. Chi này ở ngôi tất cả
271 năm, từ năm Định Tỵ (2524 TCN) đến năm Bính Tuất ( 2253 TCN). Ngang với TQ
vào thời Đế Thuấn, Hữu Ngu.
4. Chi Chấn
Hùng
Hoa Vương, huý Bửu Lang, không rõ năm sinh, lên ngôi năm Đinh Hợi (2254 TCN),
không rõ truyền mấy đời vua, đều xưng là Hùng Hoa Vương. Chi này ở ngôi 336
năm, từ năm Đinh Hợi (2254 TCN) đến năm Mậu Thìn (1918 TCN). Ngang với TQ vào
thời Đế Quỳnh nhà Hạ
5. Chi Tốn
Hùng
Hi Vương, huý Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 TCN), lên ngôi khi 59 tuổi. Chi
này không rõ có mấy đời vua, đều xưng là Hùng Hi Vương, ở ngôi tất cả 200 năm,
từ năm Kỷ Tỵ (1912 TCN) đến năm Mậu Tý (1713 TCN). Ngang với TQ vào thời Lý Quý
(Kiệt) nhà Hạ.
6. Chi Ly
Hùng
Hồn Vương, huý Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu ( 1740 TCN), lên ngôi năm 29 tuổi.
Chi này truyền hai đời vua, ở ngôi tất cả 81 năm, đều xưng Hùng Hồn Vương, từ
năm Kỷ Sửu (1712 TCN) đến Kỷ Dậu (1632 TCN). Ngang với TQ thời Ốc Đinh nhà
Thương.
7. Chi Khôn
Hùng
Chiêu Vương, huý Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 TCN), lên ngôi năm 18 tuổi.
Chi này có 5 đời vua đều xưng là Hùng Chiêu Vương, ở ngôi 200 năm, từ năm Canh
Tuất ( 1631 TCN) đến Kỷ Tỵ (1432 TCN). Ngang với TQ thời Tổ Ất nhà Thương.
8. Chi Đoài
Hùng
Vĩ Vương, huý Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 TCN), lên ngôi năm 39 tuổi.
Chi Đoài có 5 5 đời vua, đều xưng là Hùng Vĩ Vương, ở ngôi 100 năm, từ năm Canh
Ngọ (1431 TCN) đến năm Kỷ Dậu (1332 TCN). Ngang với TQ thời Nam Canh nhà Thương.
9. Chi Giáp
Hùng
Định Vương, huý Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 TCN), lên ngôi năm 45
tuổi. Chi được truyền 3 đời vua, đều xưng là Hùng Định Vương, ở ngôi 80 năm, từ
năm Canh Tuất (1331 TCN) đến Kỷ Tỵ (1252 TCN). Ngang với TQ thời Tiểu Ất nhà Ân.
10. Chi Ất
Hùng
Uy Vương, huý Hoàng Long Lang, sinh năm Giáp Ngọ (1287 TCN), lên ngôi năm 37 tuổi.
Chi có 3 đời vua, đều xưng là Hùng Uy Vương, ở ngôi 90 năm, từ năm Canh Ngọ
(1252 TCN) đến Kỷ Hợi (1162 TCN). Ngang với TQ thời Tổ Giáp nhà Ân.
11. Chi Bính
Hùng
Trinh Vương, huý Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 TCN), lên ngôi năm 51
tuổi. Chi có 4 đời vua, đều xưng là Hùng Trinh Vương, ở ngôi tất cả 107 năm, từ
năm Canh Tý (1161 TCN) đến Bính Tuất (1055 TCN). Ngang với TQ thời Thành Vương
nhà Tây Chu.
12. Chi Đinh
Hùng
Vũ Vương, huý Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105), lên ngôi năm 52 tuổi.
Chi được truyền 3 đời vua, đều xưng là Hùng Vũ Vương, ở ngôi 96 năm, từ năm
Đinh Hợi (1054 TCN) đến Nhâm Tuất (969 TCN). Ngang với TQ tời Mục Vương nhà Tây
Chu.
13. Chi Mậu
Hùng
Việt Vương, huý Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 TCN), lên ngôi năm 23 tuổi,
truyền được 5 đời vua, đều xưng là Hùng Việt Vương. Chi này ở ngôi 105 năm, từ
năm Quý Hợi (958 TCN) đến năm Đinh Mùi (854 TCN). Ngang với TQ thờin Bình Vương
nhà Tây Chu.
14. Chi Kỷ
Hùng
Anh Vương, huý Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 TCN), lên ngôi năm 42 tuổi,
truyền được 4 đời vua, đều xưng là Hùng Anh Vương. Chi này ở ngôi 99 năm, từ
năm Mậu Thân (853 TCN) đến Bính Tuất (755 TCN). Ngang với TQ thời Bình Vương
nhà Đông Chu.
15. Chi Canh
Hùng
Triệu Vương, huý Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 TCN), lên ngôi năm 35
tuổi. Chi này có 3 đời vua, đều xưng Hùng Triệu Vương, ở ngôi 94 năm, từ năm Định
Hợi (754 TCN) đến Canh Dần (661 TCN). Ngang với TQ thời Huệ Vương nhà Đông Chu.
16. Chi Tân
Hùng
Tạo Vương (thần phả ở xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang), huý Đức
Quan Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (172 TCN), lên ngôi năm 53 tuổi. Chi có 3 đời vua, đều
xưng là Hùng Tạo Vương, ở ngôi 92 năm, từ năm Tân Dậu (860 TCN) đến Nhâm Thìn
(569 TCN). Ngang với TQ thời Linh Vương nhà Đông Chu.
17. Chi Nhâm
Hùng
Nghị Vương, huý Bảo Quân Lang, sinh năm Ất Dậu (576 TCN), lên ngôi năm 9 tuổi.
Chi Nhâm có 4 đời vua, đều xưng là Hùng Nghị Vương, ở ngôi tất cả 160 năm, từ
năm Quý Tỵ (568 TCN) đến Nhâm Thân (409 TCN). Ngang với TQ thời Uy Liệt Vương
nhà Đông Chu.
18. Chi Quý
Hùng
Duệ Vương, huý Huệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 TCN), lên ngôi năm 14 tuổi.
Chi này không rõ có mấy đời vua (có lẽ 3 đời), ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm
Quý Dậu (408 TCN) đến Quý Mão (258 TCN). Ngang với đời Uy Liệt Vương và đời
Noãn Vương nhà Đông Chu, TQ.
Giải
thích như trên là rõ ràng và thuyết phục hơn những luận giải khác.
Hàng năm chúng ta đều tổ chức quốc giỗ long trọng,
thế nhưng có lẽ không nhiều người hiểu và lý giải được tại sao thời vua Hùng
kéo dài trên 2600 năm mà chỉ có 18 "đời" vua. Thiết nghĩ, các nhà sử
học, truyền thông cũng như lãnh đạo các cấp cần làm rõ và phổ biến rộng rãi cho
người dân biết.
Trân trọng.
26/04/2021
Ngẫm.
Bao đời nay chẳng có mấy trung thần được cái kết tốt đẹp. Trung thần là dùng để giết. Danh thần, dũng tướng chết oan nhiều lắm vì chết cũng là do đấu tranh, kém trí hơn người thì chết. Đấu tranh chính trị cũng giống như trên chiến trường, thua trận là chết.
20/04/2021
Lưu manh
"Lưu
manh" là từ dùng để chỉ những người có hành vi lừa đảo, không
trung thực hoặc sống ngoài vòng pháp luật. Người "lưu manh" thường thực hiện những hành vi xấu xa, gian dối,
không tuân thủ các quy tắc xã hội và gây phiền hà, thiệt hại cho người khác. Từ
này thường được dùng để miêu tả những người có tính cách xảo quyệt, sẵn sàng
bất chấp tất cả để đạt được mục đích cá nhân mà không quan tâm đến hậu quả đối
với người khác.
Tuy nhiên,
"lưu manh" không chỉ đơn
thuần là những kẻ lười lao động, chuyên sống bằng trộm cắp và lừa đảo. Hiện
nay, còn xuất hiện các dạng "lưu
manh trí thức" hay "lưu
manh quan quyền" những người sử dụng trí tuệ hoặc quyền lực của mình
để thực hiện các hành vi bất chính.
Theo quan
điểm của tôi, "lưu manh" là
những kẻ có phẩm chất dữ dằn (côn đồ), không làm việc chính đáng, mà dựa vào thế
lực (vũ lực, quan hệ, chức quyền...) để làm bậy, hoặc sử dụng sự xảo trá, lừa
đảo nhằm hại người - lợi mình. "Lưu
manh" là những kẻ coi thường chính nghĩa, thực hiện những hành động
phi pháp và xấu xa chỉ để đạt được mục đích cá nhân.
Tiếng trống chùa xứ quê xưa
Trần Hữu Hiệp
Xóm tôi nằm ở ngã ba sông. Bên này sông là 2 cái nhà
thờ Công giáo và đạo Tin Lành. Bên kia sông là ngôi chùa Khmer, còn cạnh nhà
tôi là một ngôi chùa Phật.
Nghe ông tôi kể, ngôi chùa cổ này đã có từ thời cố
tôi còn nhỏ. Nhiều thiết chế tôn giáo quần cư trong một xóm nhỏ, kể cũng lạ. Có
lẽ người dân xứ tôi từ xưa đã mở lòng tiếp nhận đủ thứ đạo, miễn là cái đạo đó
khuyên con người làm điều tốt, việc thiện.
Âm thanh quen thuộc đi vào ký ức tuổi thơ tôi là tiếng
trống chùa tùng tùng vang lên điểm lúc sang canh giữa đêm khuya, thỉnh thoảng
hòa với tiếng chuông nhà thờ ngân nga.
Thời trước, dân xứ tôi không nhà nào có cái đồng hồ
xem giờ. Tiếng trống chùa chính là đồng hồ báo thức của cả xóm để thức dậy nấu
cơm khuya đi ruộng. Bọn trẻ chúng tôi, thì lấy đó làm giờ báo thức để dậy học
bài. Má tôi bảo, học trò phải dậy sớm học bài khi bụng còn đói, học như ăn cơm,
nuốt chữ mới mau thuộc, nhớ dai.
Kinh nghiệm học bài của người không biết chữ như má
tôi vậy mà hiệu nghiệm. Anh em tôi ai cũng học giỏi. Tiếc vì nhà nghèo, đông
anh em mà các chị tôi đều phải bỏ học nửa chừng để các em trai được học hành
đàng hoàng, ra trường huyện, lên trường tỉnh, rồi đi Sài Gòn, để sau này có những
năm tháng du học xứ người.
Song, tôi vẫn không quên những buổi học bài sớm nhờ
tiếng trống chùa điểm canh khuya.
Đường về quê tôi giờ đã khác xưa. Xóm nghèo nay là
xã nông thôn mới. Mái chùa cổ kính và cái nhà thờ ngày trước, nay được nhiều phật
tử và họ đạo trùng tu khang trang hơn nhiều. Ngã ba sông xưa giờ vẫn con nước lớn,
ròng mỗi bữa. Nhưng trẻ con ngày nay, thì nhiều đứa có máy di động đời mới, có
định giờ nhắc lịch hẹn, chẳng còn đứa nào phải nhờ tiếng trống chùa điểm canh,
nên chắc cũng không còn trẻ con dậy sớm học bài.
Ông từ giữ chùa, đánh trống làm công quả ngày xưa
cũng đã mất, không biết giờ còn ai đánh trống điểm canh như trước hay không?
Dù vật đổi sao dời, nhưng cái âm thanh nhà quê từ
mái chùa xưa vẫn theo tôi suốt quãng đường dài.
19/04/2021
Chồng cũ
Bình Nguyễn
Chia tay
rồi, mỗi người đi một ngã
Mình trở
thành... Người lạ đã từng yêu
Em và
con làm bầu bạn sớm chiều
Anh rẽ
bước, cưới thêm người vợ mới
Chuyện
riêng anh, em không hề nhắc tới
Cũng
không hề nghĩ ngợi, đắn đo chi
Ly hôn
xong, em còn có là gì
Quyền
làm vợ đã mất đi từ đó!
Nhưng
sâu thẳm trong lòng, em hiểu rõ
Tim sẵn
dành một góc nhỏ riêng anh
Dù tình
kia như làn khói mong manh
Nhưng
hiện hữu trong lòng em mãi mãi!
Chia tay
rồi, vài lần anh ghé lại
Ôm chầm
con, anh hôn mãi không thôi
Em
thoáng buồn vì ý nghĩ xa xôi
Nếu ngày
đó chữ... "tôi" đừng hiện hữu
Giá như
mình biết mở lòng lượng thứ
Giá như
mình biết gìn giữ tình yêu
Thì con
mình sẽ vui biết bao nhiêu
Vì trọn
vẹn tình thương cha lẫn mẹ
Em bây
giờ đã qua thời son trẻ
Đã bước
chân bên sườn dốc cuộc đời
Nhan sắc
giờ đâu bướm lả ong lơi
Đã qua
rồi cái thời khoe xuân sắc!
Chia tay
anh, cha mẹ em mãi nhắc
Tuổi còn
son thôi... bước nữa đi con
Mãi một
mình rồi buồn tủi, héo hon
Em cười
trừ: "Mẹ, cha ơi chớ vội!"
Nhìn con
mình sao mà em thấy tội
Lấy
chồng rồi, con mình sẽ ra sao?!
Với
người ta, có huyết thống đâu nào
Biết
người ta có mở lòng đón nhận?!
Là vợ
chồng tránh được đâu buồn, giận
Sợ người
ta trút giận hết vào con
Thương
con mà em đánh mất tuổi son
Giờ nhìn
lại, cuộc đời bên sườn dốc!
Có nhiều
đêm âm thầm em bật khóc
Nhìn con
mà thấy dáng vóc của anh
Người
dẫu xa, dù duyên đã không thành
Sợi
thương nhớ vẫn mong manh hiện hữu...
* * *
Ghé thăm
con bao nhiêu là cũng đủ
Anh về
đi, kẻo vợ lại ngóng trông
Em hiểu
mà cái cảm giác chờ chồng
Luôn bất
an trong lòng đầy lo sợ!
Hãy yêu
thương, quan tâm nhiều đến vợ
Đừng làm
cho cô ấy phải tổn thương
Em vì
con mà đi tiếp quãng đường
Về đi
anh!... Chồng của em... hồi đó...
07/04/2021
01/04/2021
28/03/2021
23/03/2021
Ngẫm sự thấy sự
Ngẫm sự thấy sự:
Làm Tiểu nhân phải Gian, làm Quân tử càng phải Gian hơn thì mới có thể đứng vững gót chân.
Đây là đạo Quản trị.
Vì thế có Âm mưu cũng cần phải có Dương mưu mới thành đại sự.
22/03/2021
Quan - Thương nhất thể
Thương gia không có người đỡ đầu đâu có phát.
Quan lại không có tiền đâu có lên.
Mỹ nhân - Địa vị - Thanh danh đâu có rẻ,
nên Tiền tài - Lợi ích làm môi giới
của cuộc chơi nhân thế.



