Cũng chả biết gọi là gì, những nếp ăn ở thuở còn nhỏ trong gia đình và xung quanh hàng phố ấy, còn gọi là phong kiến, nhưng mình thấy có nhiều điều thật hay. Nên đặt tạm là Gia phong vậy.
Ngày ấy, cách ứng xử, lời ăn tiếng nói của cha mẹ, con cái… giữa gia đình với người ngoài, dần dần tạo thành một truyền thống văn hóa riêng.
Nhớ những ngày còn nhỏ, đám trẻ con cứ hễ đi ra đường gặp người già là khoanh tay cúi chào. Chỉ cần giản đơn, ngắn gọn:
Con chào ông ạ! Con chào bà ạ!
Thế thôi, mà sao thấy thật thân thương, gần gũi.
Đứa trẻ nào ngỗ nghịch, gặp người cao tuổi mà ngó lơ, sẽ bị mắng ngay:
Con cái nhà ai mất dạy, mồm miệng đâu cả…
Thậm chí còn bị kéo đến tận nhà, giao lại cho bố mẹ với lời dặn:
Này, về mà dạy lại nó biết chào hỏi cho tử tế nhé.
“Kính lão đắc thọ”, thực sự là một nét đẹp, một giá trị tinh thần đầy cao quý. Giờ khi ra đường, mấy ai còn biết đến ai.
Trong gia đình cũng vậy, chuyện “đi thưa – về trình” là việc làm gần như bắt buộc. Hễ con cái ra khỏi nhà, bất kể ông bà, cha mẹ lúc ấy đang ở đâu, cũng phải đến trước mặt, khoanh tay lễ phép thưa:
Thưa ông, thưa bà, thưa cha, thưa mẹ, con đi học ạ.
Hay đi đâu thì nói rõ đi đâu, đàng hoàng rồi mới bước ra khỏi cửa.
Khi về nhà, dù trong nhà không thấy ai, cũng phải hỏi xem người trên đang ở đâu để đến tận nơi trình báo:
Con mới đi học về ạ… Con mới về ạ…
Những câu thưa gửi giản đơn ngày ấy, nay đang dần mai một.
Ngồi vào mâm cơm, người bé phải mời cả lượt những người đang ngồi quanh mâm, theo thứ bậc từ cao xuống thấp. Được mọi người hồi đáp rồi mới bắt đầu bữa ăn.
Ngay trong cách ăn cũng được các gia đình chú tâm dạy con từ khi biết dùng thìa, dùng đũa, với câu “ăn trông nồi – ngồi trông hướng”.
Ăn không phải chỉ là biết cắm đầu ăn, mà còn phải biết quan sát, biết vai vế, biết thân phận mình để lựa miếng ăn cho đúng lúc, đúng chỗ, theo thứ bậc, tôn ti rõ ràng.
Chỉ sai một phép, vội gắp đĩa thịt gà khi ông bà trong nhà còn chưa đụng đũa, có thể nhận ngay một chiếc đũa cả, một cái đánh đau, kèm vài câu răn dạy nhớ đời.
Việc cúng tế, thờ tự nơi đình làng, lễ giỗ tổ tiên các dòng họ, gia đình… tạo thành một mạch nguồn văn hóa, kết nối từ con người – gia đình – dòng tộc – xã hội.
Ngày ấy, trong nhà có việc vui, chuyện buồn, như sinh con hay ốm đau bệnh tật, hoặc giản đơn như sớm mai ngày mới, cũng dâng chén nước, thắp nén hương lên bàn thờ gia tiên.
Một đứa trẻ lớn lên trong sự giáo dục của gia đình và xã hội, luôn là niềm kỳ vọng lớn lao của cha mẹ.
Hình tượng ông tiến sĩ trong mâm cỗ Trung thu, hình ảnh vinh quy bái tổ trên những bức tranh dân gian… như một ước vọng của mỗi gia đình từ xa xưa cho đến tận bây giờ. Đó cũng là mong muốn con cái học hành, đỗ đạt, nên người.
Học giỏi, đỗ đạt cao, với khát vọng đóng góp công sức, trí lực cho đời. Giản đơn và gần gũi hơn, là để nếp nhà luôn giữ vững nét gia phong. Xa hơn, là góp công giúp vận mệnh đất nước ngày càng thêm tốt đẹp.
Những “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, những “tôn sư trọng đạo”, “kính lão đắc thọ”, “tam tòng – tứ đức”, “kính trên nhường dưới”, “ăn trông nồi – ngồi trông hướng”… cùng bao điều hay ho khác của một thời chưa xa ấy, cho đến giờ, hẳn vẫn chưa lạc hậu.
Dù thời cuộc có những biến thiên, kể cả những lúc vua quan, xã hội mục ruỗng, nhưng chính nhờ nếp gia phong trong mỗi gia đình mà bao truyền thống tốt đẹp được giữ gìn, góp phần tạo nên sức sống bền bỉ của văn hóa dân tộc.
Đấy, Gia phong chỉ thế thôi.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét