01/03/2022

Bạn - Bè

 


BẠN - BÈ thường thấy đi chung

Nhưng BÈ và BẠN chẳng cùng bên nhau

 

BẠN thì trước cũng như sau

Sang hèn không đổi, nghèo giàu chẳng thay

BẠN, khi ta gặp không may

Góp lòng xoay trở, chung tay đỡ đần

BẠN, khi ta xuống tinh thần

Tận tâm an ủi, ân cần xẻ chia

BẠN, không mốt nọ mai kia

Nghe lời xiểm nịnh mà lìa tình thân

BẠN, trong suốt quãng đường trần

Không lừa phản, chẳng tính phần thiệt hơn

BẠN thì trong mọi nguồn cơn

Buồn vui chung với vui buồn của ta

 

BÈ, thường cùng nhịp hoan ca

Hân hoan vui vẻ với ta tiệc tùng 

Khi ta gặp chuyện khốn cùng

BÈ, nhìn ta lạ như từng chưa quen

BÈ, luôn biến trắng thành đen

BÈ, hay đố kỵ, ghét ghen, nghi ngờ

Khi ta lỡ vận sa cơ

BÈ, không nâng lại phất cờ, đá thêm

BÈ, nào ngần ngại đi đêm

Bán ta bằng cái lưỡi mềm không xương

BÈ, luôn miệng chữ mến thương

Nhưng dao găm lại lụi sườn, đâm lưng

BÈ, tay ảo thuật vô chừng

Và vì chút lợi chẳng ngừng hại ta

BÈ, tâm đầy những quỉ ma

Làm chi còn chỗ Quốc gia, Đồng bào

 

*

BẠN, ôi nghĩa ấy ngọt ngào

Là DUYÊN là HẠNH chớ nào bỗng nhiên

BẠN ơi, hỡi các BẠN HIỀN !

BẠN là hoa HẠNH hoa DUYÊN, hoa ĐỜI

 

*

CẢM ƠN TÌNH BẠN TUYỆT VỜI

SÓNG XÔ TÔI XUỐNG, BẠN NGƯỜI NÂNG LÊN

 

Ngô Minh Hằng

 

Trộm áo nhà vua - Kinh Bách dụ

                                                     Ví dụ thứ tám trong kinh Bách dụ - Lời Phật dạy.

Thuở xưa, có người nhà quê, lẻn vào kho áo của vua lấy trộm một bộ y phục, rồi lén chạy đến một phương xa.

Sau khi vụ mất trộm bị phát giác, nhà vua bèn phái nhiều binh lính đến các nơi tra tìm, cuối cùng bắt được tên ăn trộm đưa về tòa án. Khi bị thẩm vấn, y không thừa nhận y phục nầy là đã lấy trộm của vua, còn nói là di sản của tổ phụ lưu truyền lại. Vua mới bảo y lấy y phục ấy mặc thử.

 Y không biết cách mặc, đem món đang mặc trên cánh tay mà mặc dưới chân, đem món đang mặc ngang lưng bụng mà mặc lên trên đầu.

Vua thấy thế phán rằng:

– Ngươi mặc lộn như vậy, chứng tỏ y phục đấy chẳng phải của tổ phụ ngươi lưu truyền. Huống nữa y phục nầy là của vua và các quan mặc, tổ phụ ngươi làm gì có thứ nầy?

Tên ăn trộm cứng họng, không thể trả lời được, đành phải cúi đầu thừa nhận.

** Chuyện nầy tỷ dụ: Ngoại đạo ăn trộm giáo nghĩa của Phật pháp làm của mình; nhưng vì không hiểu rõ chính nghĩa Phật pháp; ăn trộm rồi để đó chứ không dùng được chuyện gì, chỉ được cái điên đảo tạp nhạp không thứ tự, lớp lang. Kết quả không khỏi bộc lộ bản chất của bọn họ.

Đừng tưởng

 

Tác giả: nhà thơ Bùi Giáng

Đừng tưởng cứ núi là cao.. Cứ sông là chảy, cứ ao là tù.

Đừng tưởng cứ dưới là ngu.. Cứ trên là sáng cứ tu là hiền.

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên.. Cứ nhiều là được cứ tiền là xong, 

Đừng tưởng không nói là câm.. Không nghe là điếc không trông là mù.

Đừng tưởng cứ trọc là sư.. Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan

Đừng tưởng có của đã sang.. Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây.

Đừng tưởng cứ uống là say.. Cứ chân là bước cứ tay là sờ.

Đừng tưởng cứ đợi là chờ.. Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần.

Đừng tưởng cứ mới là tân.. Cứ hứa là chắc cứ ân là tình

Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

Đừng tưởng cứ quyết là nên.. Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua

Đừng tưởng cứ lớn là khôn… Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng.

Đừng tưởng giàu hết cô đơn.. Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo.

Đừng tưởng cứ gió là mưa.. Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè.

Đừng tưởng cứ hạ là ve.. Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn.. Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

Đừng tưởng cứ thích là yêu.. Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay.

Đừng tưởng vua là anh minh.. Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.

Đừng tưởng đời mãi êm đềm.. Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.

Đừng tưởng cười nói ân cần.. Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường.. Nói lời ngon ngọt mười phương chết người

Đừng tưởng cứ chọc là cười.. Nhiều khi nói móc biết cười làm sao.

Đừng tưởng khó nhọc gian lao.. Vượt qua thử thách tự hào lắm thay.

Đừng tưởng cứ giỏi là hay.. Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng nắng gió êm đềm.. Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng.

Đừng tưởng góp sức là chung.. Chỉ là lợi dụng lòng tin của người.

Đừng tưởng cứ tiến là lên.. Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm.

Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng.

Đừng tưởng cứ nghèo là hèn.. Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.

Đừng tưởng quan chức là rồng.

Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.


——————– ☆☆☆☆☆ ——————–

Đời người lúc thịnh, lúc suy.

Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.

Bên nhau chua ngọt đã từng

Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu

Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.

Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!

 

28/02/2022

Nhàn Thu

 




Áo tơi, nón lá với thuyền con,

Mấy mét dây câu, mấy mét cần

Một khúc hát vang, một bầu rượu,

Một người đơn độc kéo sông Thu !

 

Trăm năm đã sống, sầu nhàn rỗi,

Đời này chí thoả, nghỉ ngơi thôi;

Chết rồi đắc ý lên cao vợi,

Mây tự bay cao, nước tự trôi !

(viết trong ngày mưa lạnh)

10.2021


Ý nghĩa bánh xe chuyển pháp luân








Bánh xe chuyển pháp luân xuất hiện rất nhiều trong các kiến trúc xây dựng chùa, Tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường, kinh sách và nhu yếu phẩm Phật giáo nhằm đề cao một sự kiện hy hữu cho đời. Nhưng các bánh xe chuyển pháp luân rất đa dạng và có nhiều cách hiểu khác nhau.

I. Một số cách hiểu về bánh xe chuyển pháp luân:

1. Bánh xe chuyển pháp luân thường được sử dụng với 12 nan, 8 nan, 6 nan. Rất nhiều người cho rằng:

- 12 nan là tượng trưng cho giáo lý thập nhị nhân duyên

- 8 nan là tượng trưng cho bát chánh đạo

- 6 nan là tượng trưng cho lục độ

Vì cả 3 giáo lý quan trọng này đều đưa chúng sinh từ bờ mê đến bến giác và bánh xe chuyển pháp luân với 8 nan thường hay được sử dụng nhất vì hình thức nó đẹp.

2. Vòng ngoài của bánh xe chuyển pháp luân cũng được thiết kế theo 2 loại:

- Một là vòng ngoài như bánh xe có thể lăn được

- Hai là vòng ngoài bánh xe có các mấu theo nan (như bánh lái tầu thủy)

 II. Nguồn gốc của bánh xe chuyển pháp luân:

Đọc lại lịch sử Đức Phật Thích ca Mâu Ni chúng ta thấy sau khi thành đạo dưới cội Bồ đề. Đức Phật đã đến vườn lộc uyển chuyển bánh xe pháp độ cho 5 anh em ông Kiều Trần Như cùng chứng đạo quả. Không ngôi tam bảo đầu tiên được bình thành. Phật bảo là đức Phật Thích ca Mâu Ni, Pháp bảo là giáo lý tứ diệt đế. Tăng bảo là 5 anh em ông Kiều Trần Như. Trong khi độ 5 anh em ông Kiều Trần Như, Đức Phật đã 3 lần chuyển bánh xe pháp: Sơ chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển:

Sơ chuyển (Tứ Diệu Đế):

+ Đây là khổ, vì tính nó bức bách

+ Đây là tập, vì tính nó thường dễ chưa cảm

+ Đây là diệt, vì tính nó có thể chứng

+ Đây là đạo, vì tính nó có thể tu

Khuyến chuyển:

+ Đây là khổ, các ông phải biết

+ Đây là tập, các ông phải trừ

+ Đây là diệt, các ông cần chứng đắc

+ Đây là đạo, các ông cần tu tập

-Chứng chuyển:

+ Đây là khổ, ta đã biết

+ Đây là tập, ta đã trừ xong

+ Đây là diệt, ta đã chứng được

+ Đây là đạo, ta đã thực hành

 



  

12 nhân duyên từ “Vô minh đến Lão tử” là một chuỗi xích, một vòng lẩn quẩn mà chúng sinh bị trói buộc mãi trong “Tam giới lục đạo”.

Muốn thoát khỏi hay cắt đứt chuỗi xích trói buộc nầy, thì mỗi người cần phải đoạn trừ vô minh, vì nó là tên thủ phạm chính gây ra đau khổ.

Do đó, người ta dùng hình ảnh bánh xe có 12 căm để nói lên cái ý nghĩa luân hồi mà con người cứ mãi trầm luân thọ khổ.

Còn bánh xe chuyển pháp luân, thì người ta làm bánh xe có 8 căm để tượng trưng. Con số 8 là tượng trưng cho Bát chánh đạo. Bát chánh đạo gồm có: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

Vì trong Tứ diệu đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), thì Bát chánh đạo thuộc về Đạo đế. Đạo đế gồm có 37 phần hay phẩm, thường gọi là 37 phẩm trợ đạo. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo gồm có: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần và Bát chánh đạo phần.

Trong 37 phẩm trợ đạo này, thì Bát chánh đạo là quan trọng hơn cả. Vì đó là tám con đường đưa chúng sinh đến chỗ giác ngộ giải thoát. Nói cách khác, đó là 8 phương pháp diệt khổ để đạt được Niết bàn an lạc (Diệt đế).

Do đó, để nhắc nhở mọi người luôn nhớ đến tám con đường quan trọng nầy, nên người ta dùng bánh xe có 8 căm để biểu trưng cho ý nghĩa chuyển pháp luân vậy.

Cây Ngải cứu

Tập hợp từ net. 



Ngải cứu là loại cỏ sống lâu năm, thân có rãnh dọc. Lá mọc so le không cuống, màu 2 mặt lá khác nhau, mặt trên nhẵn, màu lục sẫm. Mặt dưới trắng tro, có nhiều lông nhỏ.

Cây ngải cứu mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước, có thể trồng quanh nhà làm thuốc. Đây là một cây thuốc nam có rất nhiều công dụng chữa rất nhiều bệnh.

Ngải cứu phơi khô để lâu năm càng tốt. Lá ngải cứu phơi khô gọi là ngải điệp. Lá ngải cứu phơi khô vỏ cắt thành bột vụn rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung.

Ngải cứu có công dụng tuyệt vời trong chữa trị nhiều loại bệnh:

1. Ngải cứu làm thuốc điều kinh

Một tuần trước ngày kinh dự kiến, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5-10g) hay dạng cao đặc (1-4g).

Ngải cứu có tác dụng điều kinh rất hiệu quả

Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường để uống, chia 2 lần/ngày. Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày. Sau 1-2 ngày sẽ thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn.

2. Ngải cứu giúp an thai

Những người đang mang thai, nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16gr lá ngải cứu, 16gr lá tía tô, sắc cùng với 600ml nước, sắc còn 100ml, chia làm 3-4 lần uống/ngày. Bài thuốc này có tác dụng an thai. Ngải cứu không có tác dụng kích thích với tử cung có thai nên không gây sảy thai.

3. Sơ cứu vết thương bằng ngải cứu

Lấy lá ngải cứu tươi giã nát, thêm 1/3 muỗng cà phê muối đắp lên vết thương, cầm máu nhanh, giảm đau nhức,

4. Ngải cứu trị mụn, mẩn ngứa

Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục như vậy sẽ có làn da trắng sáng hồng. Với trẻ em thường hay bị rôm sảy thì lấy lá ngải cứu xay nát rồi lọc lấy nước cho trẻ tắm.

5. Ngải cứu chữa đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương, đau đầu hoa mắt

Lấy 300gr ngải cứu rửa sạch, giã nát, thêm 2 muỗng mật ong (ruồi, nghệ), vắt lấy nước uống trưa, chiều. Uống liên tục trong 1-2 tuần.

6. Ngải cứu giúp lưu thông máu lên não

Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín rồi ăn.

7. Ngải cứu trị suy nhược cơ thể, kém ăn

Lấy 250gr ngải cứu, 2 quả lê, 20gr câu kỷ tử, 10gr đinh quy, 1 con gà ri (gà ác) 150gr, hầm trong 0,5 lít nước (thêm gia vị, bột nêm) còn 250ml. Chia làm 5 phần, ăn cả ngày. Liên tục 1-2 tuần.

8. Ngải cứu trị cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần kinh

Lấy 300gr ngải cứu, 100gr lá khuynh diệp, 100gr lá bưởi (hoặc quýt, chanh). Nấu trong 2 lít nước. Sôi 20 phút nhấc xuống, xông 15 phút. Cách thứ 2: Nấu lá thuốc cứu với 100gr lá tía tô, 100gr tần dầy lá, 50gr lá sả trong 1 lít nước còn 0,5 lít. Uống mỗi lúc khát, liên tục trong 3-5 ngày.

9. Ngải cứu giúp lưu thông máu:

Lấy 1 nắm to lá và thân ngải cứu, vò hoặc giã giập, hòa vào chậu nước nóng để ngâm chân trước khi đi ngủ. Nên dùng thường xuyên, nhất là đối với người trung và cao tuổi.

Ngải cứu được coi là tốt cho sức khỏe nhưng nếu dùng quá nhiều cũng có thể gây ra ngộ độc. Độc tính của ngải cứu khi dùng quá liều là làm cho  thần kinh trung ương bị hưng phấn quá mức, dẫn tới chân tay run giật, sau đó cục bộ hoặc toàn thân co giật; Sau vài lần có thể dẫn đến kinh quyết (co cứng), nói sàm, thậm chí tê liệt.

Kiểm tra bằng kính hiển vi có thể phát hiện các tổn thương ở tế bào não. Sau khi khỏi bệnh, vẫn thường để lại những di chứng như hay quên, ảo giác, viêm thần kinh,… Nên mọi người chú ý.

 

27/02/2022

Đánh thức và nâng cao khí lực của cơ thể



Chân Âm là từ ngữ của Đông y, ám chỉ khí lực vô hình tiềm tàng của phần âm ở bên dưới cơ thể.

Trước hết, Âm có nghĩa là phần khuất kín. Dương có nghĩa là phần phô bày. Nơi con người, phần trước mặt mọi người nhìn thấy nhau là dương, phần lưng là âm; phần trên từ rốn trở lên là dương, và phần từ rốn xuống đến chân là âm; phần da vẻ bên ngoài là dương, và phần nội tạng là âm; phần hành vi lời nói bên ngoài là dương và tâm lý bên trong là âm…

Phần Dương là phần chúng ta trực tiếp sử dụng, tiếp xúc, và phần Âm là phần chúng ta ít để ý nhưng lại là gốc, là cơ sở, là nơi xuất phát của Dương. Âm càng to càng vững chừng nào thì Dương sẽ có điều kiện phát triển chừng nấy. Giống như bộ rễ to lớn là điều kiện cho cây trở thành đại thụ. Móng nhà sâu lớn là điều kiện cho nhà vươn cao. Một tâm lý độ lượng là điều kiện cho hành vi ngôn ngữ tốt đẹp…

Nếu phần Dương lớn hơn phần Âm thì toàn bộ cơ cấu đó bắt đầu có nguy cơ suy thoái sớm, không tồn tại lâu. Nếu bộ rễ của cây nhỏ hơn phần thân nhánh phía trên thì cây đó có tuổi thọ ngắn. Nếu đạo đức của một người ít thì Tài năng không phát triển lớn lao.

Hiểu được tính chất này, chúng ta phải luôn luôn củng cố phần gốc, nghĩa là phần Âm, của cuộc sống, của sức khỏe….



Theo hệ thống khí lực của cơ thể thì hoạt động của tâm ý ở trên đầu lại là phần cực Dương. Đối nghịch với Đầu là hai lòng bàn chân, phần cực Âm.

Vì Đầu là phần cực Dương nên nếu ta sử dụng đầu óc nhiều quá, phần Dương đang dần dần lấn phần Âm, và nguy cơ suy thoái bệnh tật đổ vỡ cũng đang tiến đến từ từ.

Hệ thống bụng dưới ở huyệt Đan điền cho đến bộ phận sinh dục với huyệt Hội âm, Dương cường, cũng là phần Âm cực kỳ quan trọng cho tinh thần và sức khỏe. Nếu hệ thống đó khỏe mạnh vững chắc thì con người sẽ ổn định và khoan khoái. Nếu hệ thống đó yếu thì con người sẽ èo uột và dễ dao động.

Những vị tu theo Tiên đạo luôn luôn xem việc luyện tập hệ thống bụng dưới là ưu tiên hàng đầu. Ngay cả những người tu thiền, nếu không có bụng dưới mạnh thì cũng không nhiếp tâm được. Trong pháp môn tu tập quán niệm hơi thở, Phật cũng dạy biết rõ toàn thân cũng có nghĩa là rèn luyện phần Âm ở dưới.

Có một phương pháp làm mạnh lên hai huyệt đạo quan trọng Hội Âm và Dương cường, và cũng làm cho đầu óc tỉnh táo hơn, đó là phương pháp cố căn. Vì hậu môn con người nằm giữa hai huyệt Hội Âm và Dương cường nên khi nhíu chặt hậu môn thì hay huyệt trên được củng cố. Khi hít vào, ta nín thở, và thực hiện cố căn ba lần, rồi thở ra. Tập cố căn như vậy tâm rất dễ nhiếp, và chữa được nhiều bệnh thuộc về thần kinh não. Nhiều người tập khí công có tập cố căn như thế, đến khi chuyển qua tu thiền luôn được kết quả tốt.

Ngoài lúc tập “cố căn”, chúng ta cũng thường xuyên để tâm ở phía dưới phần bụng, chân, hai lòng bàn tay khi đặt dưới bụng lúc ngồi kiết già, cũng là giúp củng cố thêm phần Âm của cơ thể.

Một số người bẩm sinh chân âm đã dồi dào, nên họ có sức khỏe tốt, có thể làm việc dẻo dai hơn người khác, đó cũng là những người có thể chất tốt, ít bị mệt mỏi, đầu óc tư duy sáng suốt.

Muốn bảo vệ Chân âm, cần lưu ý các vấn đề sau:

- Không hoạt động thái quá về đầu óc, hoặc giác quan trên đầu, mặt. Ngay cả việc xem Ti vi nhiều cũng làm khí lực bốc lên trên. Đọc sách, lắng nghe, viết sách, sáng tác… nhiều quá cũng khiến khí lực bốc lên. Là người phải sử dụng đầu óc, nhưng chúng ta phải biết cân đối vừa phải, và biết giải tỏa stress, nghĩa là phải biết vận động tay chân đơn giản, biết tọa thiền để tâm xuống dưới…

Theo học thuyết âm dương ngũ hành thì âm có thể chuyển hóa thành dương, vì vậy khi làm việc đầu óc quá nhiều là ta đang đốt mất dần âm lực ở phía dưới để chuyển hóa thành năng lượng dương ở trên đầu. Cũng giống như chiếc đèn dầu đang cháy, dầu hỏa là nhiên liệu âm chuyển hóa thành ngọn lửa dương, khi hết dầu là đèn tắt.

-Những thực phẩm cay nồng như ớt tiêu, rượu cũng làm hao bớt Chân Âm.

-Những hóa dược trị bệnh, trị bệnh nào đó nhanh chóng nhưng lạ phá dần Chân Âm, nhất là các loại thuốc giảm đau.

Nói tóm lại nếu phương pháp nào tập luyện làm cho đầu mát, chân nóng tức là ta đã đi đúng hướng. Điều này có nghĩa là làm cho phần nội lực bên dưới sung mãn, nhưng bên trên đầu óc lại thanh thoát nhẹ nhàng.

Những phương pháp tập luyện nào mà làm cho đầu nóng thì cần phải xét lại.