04/12/2025

Lại vui tí

 

Cô giáo dẫn cu Tí lên văn phòng ông hiệu trưởng, xin cho cu Tí nhảy lên lớp trên, vì cậu rất thông minh so với lớp hiện tại ...

Ông hiệu trưởng chưa tin lắm , nên hỏi cậu thêm vài câu cho chắc chắn :

- 25 nhân 25 là mấy ?

Cu Tí :

- Dạ là 625

- Công thức diện tích hình tròn ?

- Dạ, bình phương bán kính nhân Pi

- Nước bốc thành hơi khi nào ?

- Dạ khi sôi ở 100 độ.

...

Sau gần 5 phút "thẩm vấn", câu nào cu Tí cũng đáp đúng hết, ông hiệu trưởng rất hài lòng về kiến thức khoa học của cậu và giao cho cô giáo hỏi về kiến thức tổng quát khác :

- Cô giáo : Con gì càng lớn càng nhỏ ?

- Dạ là con cua ạ .

- Cô giáo : Chỗ nào phụ nữ đen nhất ?

Ông hiệu trưởng giật mình.

- Dạ ở Châu Phi ạ .

- Cô giáo : Cái gì ở giữa 2 chân của cô ?

Ông hiệu trưởng chếc điếng người

- Dạ là cái đầu gối

- Cô giáo : Cái gì trên người của cô lúc nào cũng ẩm ướt ?

Ông hiệu trưởng há hốc mồm ra

- Dạ là cái lưỡi

- Cô giáo : Cái gì còn nhỏ khi cô chưa có chồng và rộng ra khi cô lập gia đình?

Ông hiệu trưởng ra dấu không cho cu Tí trả lời nhưng cậu đáp ngay :

- Dạ là cái giường ngủ

- Cô giáo : Cái gì mềm mềm nhưng khi vào tay cô một hồi thì cứng ra ?

Ông hiệu trưởng không dám nhìn cô giáo

- Dạ là dầu sơn móng tay ạ

Ông hiệu trưởng toát mồ hôi hột , bảo cô giáo đừng hỏi nữa và nói:

- Thôi, cho nó lên thẳng đại học đi... Vì nãy giờ, ngay cả thầy cũng ko đáp trúng được 1 câu nào hết...

01/12/2025

Xuất xứ từ Nhật Bản, chữ Hán nhưng chỉ người Việt biết chơi bài Tổ Tôm

 st trên net


Các nhân vật trong bộ bài Tổ Tôm mặc Kimono mang đặc trưng Nhật Bản. Nhưng người Nhật hoàn toàn không biết đến trò chơi này.



Tổ tôm, hay theo Hán Việt tụ tam bài (聚三牌), là một trò chơi bài lá dân gian phổ biến của người Việt. Về tên gọi, có nguồn cho rằng "tổ tôm" là đọc trại âm "Tụ tam". "Tụ tam" theo từ nguyên là "góp ba thứ lại", tức ba hàng Văn, Vạn và Sách của bộ bài.


Hình vẽ trên mỗi quân bài lại mang phong cách tranh mộc bản (木本 mokuhan) của Nhật Bản nên có người đặt câu hỏi phải chăng tổ tôm xuất phát từ Nhật. Nguyên nhân có lẽ chỉ là do dưới thời Pháp thuộc, công ty A.Camoin & Cie của Pháp đã cho phát hành bộ bài tổ tôm với những hình trang trí lấy cảm hứng từ mĩ thuật Nhật Bản.


Hình ảnh của bộ bài tổ tôm được giữ nguyên từ đó cho đến nay. Có nguồn thì lại phỏng đoán cho tổ tôm xuất phát từ Trung Hoa. Tuy nhiên cho đến nay rõ một điều là cả Nhật và Trung Hoa đều không dùng bộ bài này.


Những nhân vật trên quân bài đều trang phục như người Nhật thời Edo, tức trước cuộc cải cách của Nhật hoàng Minh Trị 1868.


Trong các quân bài thì 18 quân vẽ hình người đàn ông (có tám người chân quấn xà-cạp kyahan), bốn hình phụ nữ và bốn hình trẻ em. Ngoài ra có vài quân vẽ những vật khác nhưng đều là mô hình thông dụng trong ngành hội họa Nhật: cá chép, trái đào, vọng lâu, tàu thuyền.


Lá bài làm bằng bìa cứng, hẹp và dài, một mặt để trơn, mặt kia có hình và chữ. Bề ngang lá bài khoảng chiều ngang hai ngón tay. Bề dọc dài hơn ngón tay giữa.


Lạ ở chỗ là bộ bài này chỉ có người Việt chơi, người Nhật không chơi, người Hoa cũng không chơi (Trừ một số ít Hoa Kiều ở Việt Nam). Nhưng những chữ viết trên lá bài là một loại chữ Hán (Kanji) kiểu cách, hơi giống Lệ Thư (Reisho) với nét cứng mạnh, gồm có bốn loại chữ là “văn, vạn, sách, thang, không biết có liên hệ gì với mạt chược, tiếng Nhật gọi là “majan” (Ma tước) không?


Còn các hình vẽ đều là hình vẽ của Nhật, có lẽ gốc là một lối tranh mộc bản (Mokuhan, học từ Trung Hoa nhưng trở thành đỉnh cao mỹ thuật độc đáo của Nhật) đơn giản và nay thường do người Hoa in ra bán.


Giáo Sư Yumio Sakurai đã giới thiệu trong cuốn “Nihon No Kinsei 1, Nhật Bản Cận Thế, tập 1″ do nhà xuất bản Chuo Koron Sha, Trung Ương Công Luận Xã, xuất bản năm 1992. Theo Giáo Sư, loại chữ ghi trên đó cũng lạ, không hẳn là chữ Hán bình thường, một số chữ có thể là chữ Nôm? Thực ra, tất cả chỉ là chữ Hán viết kiểu cách đi thôi.


Đưa cho một số người Nhật đọc thử một số nét chữ trên bộ bài Tổ Tôm, họ đọc không được hoặc vừa đọc vừa đoán. Ðặc biệt lá bài “nhất thang” (Chữ nhất viết theo lối cổ) có hình bà mẹ cho con bú, nét viết rất lạ (Bộ ba chấm thủy viết thành hình số 8, chữ nhất dạng cổ cũng khó nhận ra) thì hầu như không ai đọc được.


Thêm một điểm cũng lạ là người Việt chơi bài và cờ hầu như không biết chữ Hán, nhưng nhận diện quân Cờ Tướng, Mạt Chược và quân bài Tam Cúc hay Tổ Tôm viết bằng chữ Hán thì không sai.


Cửa tiệm Mekong Center ở Nhật Bán thường bán bài Tổ Tôm cho người Việt (Thanh niên miền Bắc) và cho người Nhật, họ không biết chơi, nhưng mua để nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc.

Độ cao châu Á và so sánh với các châu lục khác

 ST

 

Sơ đồ của Brilliant Maps

 

Châu Á là nơi đặc biệt nhất thế giới, khi vừa sở hữu điểm cao nhất lẫn điểm thấp nhất trên Trái Đất.

- Điểm cao nhất châu Á: Núi Everest (Trung Quốc – Nepal). Độ cao: 8.848 m (29.029 ft)

- Điểm thấp nhất châu Á: Biển Chết (Israel – Jordan – Palestine). Độ cao: −428 m (−1.404 ft)

* Độ chênh lệch cao – thấp: 9.276 m (30.433 ft).

 

So sánh với Australasia (châu Đại Dương – châu Úc và các đảo lân cận)

- Núi cao nhất: Aoraki / Mount Cook (New Zealand) – 3.724 m (12.218 ft)

- Thấp nhất: Hồ Eyre (Úc) – −15 m (−49 ft)

* Chênh lệch: 3.739 m (12.267 ft)

 

 Châu Nam Cực (Antarctica)

- Núi cao nhất: Mount Vinson – 4.892 m (16.050 ft)

- Thấp nhất: Nam Đại Dương (mực nước biển)

* Chênh lệch: 4.892 m (16.050 ft)

Nhìn chung, châu Á nổi bật nhất thế giới về độ chênh địa hình, với sự đối lập cực đoan từ Everest – “nóc nhà thế giới” cho đến Biển Chết – vùng trũng sâu nhất hành tinh.

 


 

 

30/11/2025

An Nam Tứ Đại Khí

 ST

 


 Ảnh do Gemini tạo

 

Từ những ngày đầu lập quốc, nhà Lý đã nung nấu khát vọng xây dựng một vương triều vững mạnh, sánh vai với các cường quốc phương Bắc. Triều đại Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, rồi Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông không chỉ chú trọng phát triển kinh tế, quân sự mà còn đề cao Phật giáo, xem đó là quốc giáo, là nền tảng tinh thần cho dân tộc. Chính trong thời kỳ hưng thịnh ấy, bốn công trình vĩ đại, được đúc bằng đồng, mang sức mạnh và linh khí của non sông, đã ra đời. Người đời gọi đó là "An Nam Tứ Đại Khí".

1. Tháp Báo Thiên - Trấn Giữ Thăng Long (Đời Lý Thánh Tông)

Năm 1057, dưới thời vua Lý Thánh Tông, tại phường Báo Thiên (nay là khu vực quanh Nhà Thờ Lớn Hà Nội), một công trình kiến trúc Phật giáo đồ sộ đã được khởi dựng: Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp (thường gọi tắt là Tháp Báo Thiên).

Lý do để tháp được coi là tứ đại khí là vì tầng trên cùng của đỉnh tháp đều được đúc bằng đồng. Toà tháp cao tới 20 trượng (khoảng 70m, có tài liệu ghi 12 tầng, có tài liệu ghi 30 tầng), sừng sững giữa kinh thành Thăng Long, được xem là trụ cột chống trời của Đại Việt. Tương truyền, trên đỉnh tháp còn có tượng tiên nhân đứng hứng mưa làm thuốc cho vua, thể hiện lòng tin vào sự che chở của thần linh. Tháp Báo Thiên không chỉ là công trình kiến trúc đỉnh cao mà còn là biểu tượng cho uy thế và niềm kiêu hãnh của quốc gia độc lập. Nó trấn giữ long mạch, bảo vệ kinh thành khỏi tai ương.

Trận bão năm Mậu Ngọ (1258) đời Trần Thánh Tông đã làm ngọn tháp này bị đổ! Sau khi được trùng tu, tháp lại bị sét đánh sạt mất 2 tầng về góc bên Đông vào năm Nhâm Tuất (1322) đời Trần Minh Tông. Đến tháng 6 năm Bính Tuất (1406) đời Hồ Hán Thương, nghĩa là 84 năm sau khi được trùng tu lần thứ hai, đỉnh tháp lại bị đổ, mặc dù không gặp phải sự cố mưa bão hoặc sấm chớp gì.

Thời thuộc Minh (1414-1427), quân Minh đã cho phá tháp chế súng. Chỗ tháp bị phá sau đó được trổ đất thành gò cao để dựng tràng.

2. Chuông Quy Điền - Tiếng Chuông Không Ngân (Đời Lý Nhân Tông)

Vào năm Canh Thân (1080), dưới triều vua Lý Nhân Tông, triều đình cho đúc một chiếc chuông cực lớn cho chùa Diên Hựu (chùa Một Cột ngày nay). Chuông được đúc bằng  đồng khoảng 7,3 tấn với hy vọng tiếng chuông sẽ vang vọng khắp cõi, mang lại an lành.

Tuy nhiên, chuông quá lớn, không treo được lên gác chuông đã xây, và khi đánh thì lại không phát ra tiếng kêu vang. Vua lấy làm tiếc, bèn cho vần chiếc chuông khổng lồ này ra khu ruộng sau chùa. Khu ruộng ấy thấp trũng, lại có nhiều rùa sinh sống, nên người đời gọi chuông là chuông Quy Điền (chuông ở ruộng rùa). Dù không kêu, nó vẫn được xem là bảo vật lớn vì sự kỳ công và chất liệu quý giá.

Vào tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), chuông Quy Điền đã bị Vương Thông (nhà Minh) cho phá hủy để chế súng đạn, hỏa khí.

3. Tượng Phật Chùa Quỳnh Lâm - Đức Phật Khổng Lồ (Đời Lý Thánh Tông/Trần)

Tượng Phật tại chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh) là pho tượng Phật Di Lặc bằng đồng khổng lồ, được tạo dựng từ thời Lý Thánh Tông (năm 1057) và hoàn thiện, trùng tu lớn vào thời Trần, do Thiền sư Nguyễn Minh Không chủ trì đúc.

Tương truyền, tượng cao tới 6 trượng (khoảng 20m). Tượng lớn đến mức phải xây hẳn một tòa điện cao 7 trượng để đặt, và đứng cách xa chùa đến 10 dặm vẫn thấy được nóc điện che sát đầu pho tượng. Đây là minh chứng hùng hồn nhất cho sự phát triển rực rỡ và quy mô của Phật giáo Đại Việt, là biểu tượng của lòng sùng đạo và nghệ thuật đúc đồng tinh xảo.

Thời gian giặc Minh xâm lược nước ta (1407-1427), chùa bị phá hủy, pho tượng bị cướp mang đi (đầu thời Lê, chùa Quỳnh Lâm được dựng lại, nhưng đến đời Thiệu Trị (1841-1847) lại bị đốt trụi)

4. Vạc Phổ Minh - Chiếc Vạc Hóa Rồng (Đời Trần)

Dù Tứ Đại Khí khởi nguồn từ nhà Lý, nhưng chiếc vạc đồng nổi tiếng lại được đúc vào thời nhà Trần. Năm Nhâm Tuất (1262), nhân dịp Thượng hoàng Trần Thái Tông về chơi quê hương Tức Mặc (Nam Định), triều đình đã cho đúc Vạc Phổ Minh tại chùa Phổ Minh.

Chiếc vạc này cũng vô cùng to lớn, sâu 4 thước, rộng 10 thước, nặng 6150 cân đồng. Truyền thuyết kể rằng, miệng vạc dày và rộng đến nỗi hai người có thể chạy nhảy và đi lại trên đó. Vạc Phổ Minh được xem là nơi hội tụ linh khí, là biểu tượng cho sự thịnh vượng, vững vàng của triều Trần sau những chiến công chống Nguyên Mông.

Cùng với chuông Quy Điền, tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) khi bị vây ở Đông Quan, Vương Thông đã cho phá vạc Phổ Minh đã được Quân Minh chuyển từ Thiên Trường (Nam Định) về Đông Quan (Hà Nội).