Đạo Phật đã có mặt tại
Việt Nam ta từ hàng ngàn năm qua, những giá trị tinh thần của Phật giáo đã đi vào
đời sống xã hội như một thực thể hòa hợp và gắn bó. Những tác động và ảnh hưởng
của Phật giáo được biểu hiện trong từng nhịp sống của người dân đất Việt.
Đức Phật đã dạy “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian pháp”, nghĩa là đạo Phật hiện hữu ngay tại thế gian, việc đạo không thể tách rời việc đời.
Đức Phật đã dạy “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian pháp”, nghĩa là đạo Phật hiện hữu ngay tại thế gian, việc đạo không thể tách rời việc đời.
Nói một cách khác, đạo ở
tại đời, người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ
người, hành đạo để giúp đời. Trong mối quan hệ khăng khít ấy, người theo đạo và
người xuất gia tu đạo luôn giữ một mối quan hệ gắn bó, nhưng không phải ai cũng biết về cấp bậc, chức sắc và cách xưng hô trong Phật giáo để gây ra những lầm lẫn.
Trong bài này tôi cố gắng cung cấp các thông tin giản lược nhất để mọi người tham khảo. Cũng cần nói rõ ở đây là tôi chỉ đề cập đến tông phái Phật giáo Tịnh Độ và Thiền (Bắc tông) mà thôi.
Trong đạo Phật, có thể chia ra hai trường hợp
xưng hô, một là xưng hô giữa hàng phật tử xuất gia với phật tử xuất gia; hai là
xưng hô giữa người phật tử xuất gia với phật tử tại gia.
Trước hết, chúng ta
cùng tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến danh xưng trong đạo Phật, đó là cách
tính tuổi và các phẩm trật trong đạo Phật. Có hai loại tuổi được đề cập đến, đó
là tuổi đời và tuổi đạo. Tuổi đời là tuổi tính theo đời, kể từ năm sinh ra. Tuổi
đạo là tuổi thường được nhiều người tính từ ngày xuất gia tu đạo. Nhưng đúng
ra, tuổi đạo phải được tính từ năm thụ cụ túc giới (giới tỳ kheo [nam] và tỳ kheo ni [nữ])
đồng thời, hàng năm phải tùng hạ tu học theo chúng và đạt tiêu chuẩn, mỗi năm
như vậy được tính một tuổi hạ (hay
hạ lạp).
Một người tuổi đời dưới 20 phát tâm xuất gia, hay
do gia đình đem gửi gắm vào cửa chùa, thường được gọi là chú tiểu (nam), hay điệu (nữ). Đó
là các vị đồng chân nhập đạo. Thời gian sau, vị này được thụ 10 giới, gọi
là Sa di (đối với nam) hay Sa di ni (đối với nữ). Đến năm được ít nhất là 20
tuổi đời và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tập, vị này được thụ giới
cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo (nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi
là Đại đức (nam) hay Sư cô (nữ). Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ kheo (nam) hay Tỳ
kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia.
Giới cụ túc (Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni) là giới đầy
đủ, viên mãn, cao nhất trong đạo Phật để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc
mãn đời, không phải thụ giới nào cao hơn. Việc thụ Bồ tát giới (tại gia hay
xuất gia) là do sự phát tâm riêng của từng vị theo Phật giáo Bắc tông (Phật
giáo Nam tông không có giới này). Tôn ty, trật tự có danh xưng như sau:
- Năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo
được gọi là Đại đức; năm 45 tuổi đời, vị tỳ kheo được 25 tuổi đạo, được gọi là
Thượng tọa; năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa
thượng;
- Đối với bên nữ (ni bộ): năm 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thụ giới tỳ
kheo ni được gọi là Sư cô; năm 45 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 25 tuổi đạo, được
gọi là Ni sư; năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Ni
trưởng.
Đó là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và
tuổi đạo, được dùng trong việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của
Giáo hội, không được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp.
Đối với các bậc Hòa thượng mang trọng trách điều
hành các cơ sở Giáo hội Phật giáo trung ương cũng như địa phương, hay các Đại
tùng lâm, Phật học viện, Tu viện, thường là các vị trên 80 tuổi đời, được tôn
xưng là Đại lão Hòa thượng hay Trưởng lão Hòa thượng. Điều này không thấy áp dụng
đối với hàng giáo phẩm Ni. Các vị thuộc hàng giáo phẩm này thường được cung
thỉnh vào các Hội đồng Trưởng lão, hoặc Hội đồng Chứng minh tối cao của các cấp
Giáo hội. Tuy nhiên, khi ký các thông bạch, văn thư chính thức, chư tôn đức đôi
khi vẫn xưng đơn giản là Tỳ kheo, hay Sa môn để biểu hiện sự khiêm nhường theo
đúng tinh thần Phật giáo.
Giữa các vị xuất gia, thường xưng con hay
xưng pháp danh, pháp hiệu và gọi vị kia là thầy hoặc gọi cấp bậc hay chức vụ vị
đó đảm trách theo nguyên tắc bên ni trọng bên tăng. Tuy nhiên những vị tăng trẻ
tuổi vẫn tôn xưng các vị ni lớn tuổi mà xưng con gọi thầy hay phẩm trật với các
vị ni. Bên tăng cũng như bên ni, đều gọi sư phụ bằng thầy hay sư phụ, Tôn sư,
Ân sư. Các vị xuất gia cùng tông môn, cùng sư phụ, thường gọi nhau là sư huynh,
sư đệ, sư tỷ, sư muội, và gọi các vị ngang vai vế với sư phụ là sư thúc, sư bá.
Trong đạo Phật có các danh xưng đạo hữu (bạn cùng theo đạo), pháp hữu (bạn cùng
tu theo giáo pháp). Các danh xưng tín hữu (bạn cùng tín ngưỡng, cùng đức tin),
tâm hữu (bạn cùng tâm, đồng lòng) không thấy được dùng trong đạo Phật.
Khi tiếp xúc với chư tăng ni, quý vị cư sĩ phật
tử tại gia (kể cả thân quyến của chư tăng ni) thường đơn giản gọi bằng thầy hay
cô nếu như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị tăng ni và thường
xưng là con. Trong tinh thần Phật pháp, người thụ ít giới tôn kính người thụ
nhiều giới hơn chứ không phải tính tuổi tác người con theo nghĩa thế gian để tỏ
lòng khiêm cung, kính Phật, trọng tăng, cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ
tự ái, mong đạt trạng thái niết bàn vô ngã theo lời Phật dạy. Có những vị cao
tuổi xưng tôi hay chúng tôi với vị tăng ni trẻ để tránh ngại ngùng cho cả hai
bên.
Khi qui y Tam bảo, thụ ngũ giới (tam quy, ngũ giới), mỗi vị cư sĩ phật tử tại gia có một vị thầy truyền giới cho mình. Vị ấy được gọi là thầy Bản sư. Cả gia đình có thể cùng chung một vị thầy Bản sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng thầy.
Khi qui y Tam bảo, thụ ngũ giới (tam quy, ngũ giới), mỗi vị cư sĩ phật tử tại gia có một vị thầy truyền giới cho mình. Vị ấy được gọi là thầy Bản sư. Cả gia đình có thể cùng chung một vị thầy Bản sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng thầy.
Khi tiếp xúc với cư sĩ, phật tử tại gia, kể cả
người thân trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi (hay
xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng có khi chư tăng ni xưng
là thầy, hay cô và gọi quý vị là đạo hữu, hay quý đạo hữu. Cũng có khi chư tăng
ni gọi quí vị tại gia bằng pháp danh, có kèm theo hoặc không kèm theo tiếng
xưng hô của thế gian. Cũng có khi chư tăng ni, tùy theo tuổi tác của phật tử
xuất gia, mà gọi theo cách gọi của thế gian và xưng là "nhà chùa". Đây là một
cách nói gần gũi thường được sử dụng trong các sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày
chứ không phải trong các nghi thức hay các văn bản có tính chất hành chính.
Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia là quý phật tử, từ này không sai,
nhưng chưa thật chính xác bởi vì xuất gia hay tại gia đều cùng là phật tử, chứ
không riêng tại gia là phật tử mà thôi. Việc một phật tử xuất gia ít tuổi gọi
một phật tử tại gia nhiều tuổi bằng con và xưng thầy thực là không phù hợp.
Không nên gọi như vậy để tránh sự tổn đức và không nên bất bình khi nghe như
vậy để tránh bị loạn tâm. Theo truyền thống phương Đông tuổi tác rất được kính
trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất gia.
Trong các trường hợp tiếp xúc riêng, tùy thuận
theo đời, không có tính cách chính thức, không có tính cách thuyết giảng, chư
tăng ni có thể gọi các vị cư sĩ phật tử tại gia, kể cả người thân trong gia
quyến, một cách trân trọng, tùy theo tuổi tác, quan hệ, như cách xưng hô xã
giao người đời thường dùng hằng ngày.
Danh xưng cư sĩ thường dùng cho phật tử tại gia, đã qui y Tam bảo, thụ ngũ giới. Những vị cư sỹ phát tâm tu tập và góp phần hoằng pháp còn được gọi là Ưu bà tắc (thiện nam, cận sự nam) hay Ưu bà di (tín nữ, cận sự nữ).
Danh xưng cư sĩ thường dùng cho phật tử tại gia, đã qui y Tam bảo, thụ ngũ giới. Những vị cư sỹ phát tâm tu tập và góp phần hoằng pháp còn được gọi là Ưu bà tắc (thiện nam, cận sự nam) hay Ưu bà di (tín nữ, cận sự nữ).
Trong cách gọi dân gian, Phật giáo cũng sử dụng
các danh xưng như: sư chú, sư bác, sư ông, sư bà hay sư cụ. Điều này cũng có sự
phân biệt nhất định. Sư chú dành để chỉ những người xuất gia ở chùa nhưng chưa
được thụ giới; sư bác chỉ những người đã được thụ giới Sa di hay Sa di Ni; sư
ông, sư bà để chỉ những người đã được thụ giới tỷ kheo và tỷ kheo Ni. Ngoài ra,
đối với các vị bán thế xuất gia, nghĩa là đã lập gia đình trước khi vào đạo,
vẫn phải trải qua các thời gian tu tập và thụ giới như trên, cho nên cách xưng
hô cũng không khác. Tuy nhiên để tránh việc gọi một người đứng tuổi xuất gia là
chú tiểu, giống như gọi các vị trẻ tuổi, có nơi gọi các vị bán thế xuất gia này
là sư chú, hay sư bác. Bên cạnh đó, các xưng hô trong đạo như sư ông, sư bà, sư
cụ cũng thường được dành để gọi vị sư phụ của sư phụ mình, hoặc gọi chư tôn đức
có hạ lạp cao, thu nhận nhiều thế hệ đệ tử tại gia và xuất gia.
Một danh xưng nữa là pháp sư thường dành cho các vị xuất gia tăng hay ni có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp độ sanh. Ngoại đạo thường hay lạm dụng danh xưng này để chỉ các ông bà thầy pháp, thầy cúng.
Một danh xưng nữa là pháp sư thường dành cho các vị xuất gia tăng hay ni có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp độ sanh. Ngoại đạo thường hay lạm dụng danh xưng này để chỉ các ông bà thầy pháp, thầy cúng.
Danh xưng sư Tổ được dành cho chư tôn đức
lãnh đạo các tông phái còn tại thế, danh xưng Tổ sư được dành cho chư tôn đức
đã viên tịch, được hậu thế truy phong vì có công lao trọng đại đối với nền đạo.
Đối với các bậc cao tăng thạc đức thường trụ ở một tự viện, người trong đạo
thường dùng tên của ngôi già lam đó để gọi quý ngài, tránh gọi bằng pháp danh
hay pháp hiệu để tỏ lòng tôn trọng, kính ngưỡng.
Đức Phật đã dạy “hằng thuận chúng sinh”, nghĩa là
nếu phát tâm tu theo Phật, dù tại gia hay xuất gia, đều nên luôn luôn thuận
theo việc dùng tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để đem an
lạc cho chúng sanh, tức là cho mọi người trong đời, bao gồm những người đang tu
trong đạo.
Các vị phát tâm xuất gia tu hành, các vị phát tâm tu tập tại gia, thực hành hạnh ái ngữ, đã coi thường mọi thứ danh lợi, địa vị của thế gian thì quan trọng gì chuyện xưng hô, tranh hơn thua chi lời nói, quan tâm chi chuyện ăn trên ngồi trước, đi trước đứng sau, tranh chấp danh tiếng, tranh cãi lợi dưỡng, tranh giành địa vị, đòi hỏi chức vụ. Đồng quan điểm hay không, được cung kính hay không, xưng hô đúng phẩm vị hay không, chẳng đáng quan tâm, tránh sự tranh cãi.
Các vị phát tâm xuất gia tu hành, các vị phát tâm tu tập tại gia, thực hành hạnh ái ngữ, đã coi thường mọi thứ danh lợi, địa vị của thế gian thì quan trọng gì chuyện xưng hô, tranh hơn thua chi lời nói, quan tâm chi chuyện ăn trên ngồi trước, đi trước đứng sau, tranh chấp danh tiếng, tranh cãi lợi dưỡng, tranh giành địa vị, đòi hỏi chức vụ. Đồng quan điểm hay không, được cung kính hay không, xưng hô đúng phẩm vị hay không, chẳng đáng quan tâm, tránh sự tranh cãi.
Nhất niệm sân tâm khởi,
Bách vạn chướng môn khai.
Nhất niệm sân tâm khởi,
Thiêu vạn công đức lâm.
Nghĩa là: Một lần nghĩ đến sự sân hận, trăm điều
chướng nghiệp sẽ nảy sinh, một lần nghĩ đến sự sân hận, tiêu tan mọi công đức
tu tập. Do đó, trong cách xưng hô nên làm cho mọi người, trong đạo cũng như
ngoài đời, cảm thấy an lạc, thoải mái, hợp với tâm mình, không trái lòng người,
không quá câu nệ chấp nhặt.
Trong đạo Phật, cách xưng hô có thể biến đổi nhưng có một điều quan trọng bất biến, không suy chuyển, đó là phẩm hạnh, phẩm chất, đức độ, sự nỗ lực, cố gắng tu tâm dưỡng tính không ngừng cho đến ngày đạt mục đích cứu cánh giác ngộ và giải thoát, đối với Phật tử tại gia cũng như xuất gia. Đó cũng chính là một phần ý nghĩa của “tùy duyên bất biến” trong đạo Phật vậy./.
Trong đạo Phật, cách xưng hô có thể biến đổi nhưng có một điều quan trọng bất biến, không suy chuyển, đó là phẩm hạnh, phẩm chất, đức độ, sự nỗ lực, cố gắng tu tâm dưỡng tính không ngừng cho đến ngày đạt mục đích cứu cánh giác ngộ và giải thoát, đối với Phật tử tại gia cũng như xuất gia. Đó cũng chính là một phần ý nghĩa của “tùy duyên bất biến” trong đạo Phật vậy./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét