03/10/2016

Sai lầm thường gặp của Phật Tử

Quan niệm Phật như vị thần linh chỉ coi việc ban phước, giáng họa. Vì vậy, người ta không ngại gặp Phật thì cúng, gặp thần thì lạy, gặp ma quỉ thì cầu xin. Bởi trên cương vị ban phước giáng họa, họ không phân biệt đâu trọng đâu khinh............miễn vị nào đem lại được những điều cầu nguyện của họ là linh thiêng, bằng không thì hết linh ứng.

A. THÁI ĐỘ SAI LẦM CỦA PHẬT TỬ BÌNH DÂN

Người bình dân vì thiếu phương tiện học hỏi chính pháp nên không phân biệt được Phật giáo và Thần giáo. Hơn nữa, Phật giáo là nền giáo lý cao sâu, nếu không phải người giàu suy tư nhiều chiêm nghiệm thì không sao thấu đạt nổi. Người bình dân thời giờ hiếm hoi, tâm hồn bình dị, làm sao hiểu thấu được những lẽ siêu thoát của Phật dạy. Do đó, họ có những tin hiểu sai lầm như sau:

1.- THIÊN HÌNH THỨC NGHI LỄ

Người bình dân đến với Phật giáo chú trọng nhiều về hình thức nghi lễ. Qui y là để khi nào bệnh nhờ thầy cầu an, khi chết nhờ thầy cầu siêu. Cho nên trong gia đình có đứa bé ấm đầu là chạy thỉnh thầy Trụ trì về nhà cầu an. Nếu trong thân quyến có tang, đến ngày tuần thất thì thỉnh thầy về nhà tụng kinh suốt đêm. Vào chùa, bất cứ bàn thờ Phật hay bàn thờ vong đều hì hục lễ bái và lâm râm khấn nguyện. Cứ tin rằng lạy càng nhiều thì phước càng lớn. 

Đi chùa những ngày sóc, ngày vọng để cúng kính lễ bái, ngoài ra không cần biết gì nữa. Họ quan niệm tu hành rất giản dị, ai thường cúng kính là người đó tu nhiều. Ông thầy Trụ trì nào thường tổ chức cầu an, cầu siêu, cúng cô hồn, cúng sao... là ông thầy ấy tu hành tinh tấn.

Người Phật tử nào bỏ tiền nhiều, xin lễ này, tổ chức lễ nọ cho là người Phật tử thuần thành chân chánh. Xuất tiền in kinh ấn tống thì chọn ròng rặt các nghi thức cầu an, cầu siêu, kinh Tam Bảo, Địa Tạng v.v... Nếu ai giới thiệu ấn tống quyển “Lịch sử Phật giáo” cần thiết hoặc “Những bài giảng” có giá trị thì họ lắc đầu từ chối, bảo rằng: “Ấn tống sách đó thì ít phước!” Bởi nhận định này nên Phật giáo càng ngày càng đi sâu vào hình thức nghi lễ.

2.- TIN PHẬT NHƯ VỊ THẦN LINH

Người bình dân đến với đức Phật để cầu ban phước, che chở, ủng hộ hơn là tìm giác ngộ. Người ta nghĩ rằng: có tai nạn cầu Phật, Phật sẽ cứu độ cho.

Vì vậy ngày bình không cần đến chùa, chờ khi cần cầu xin một việc gì mới mang hương đăng đến chùa cầu nguyện. Thật là:

Hữu tật thì bái tứ phương,
Vô tật đồng hương chẳng mất.

hoặc:

Nghiêng vai ngửa vái Phật trời,
Đương cơn hoạn nạn, độ người trầm luân.

Quan niệm Phật như vị thần linh chỉ coi việc ban phước, giáng họa. Vì vậy, người ta không ngại gặp Phật thì cúng, gặp thần thì lạy, gặp ma quỉ thì cầu xin. Bởi trên cương vị ban phước giáng họa, họ không phân biệt đâu trọng đâu khinh, miễn vị nào đem lại được những điều cầu nguyện của họ là linh thiêng, bằng không thì hết linh ứng. Hết linh ứng thì họ bỏ không theo nữa, dù Phật cũng thế.

Do đó, trong dân gian những cốt Cô, cốt Cậu đều được Phật tử tín ngưỡng qui y. Vì những Cô, Cậu ấy đã báo cho họ biết những tai nạn sắp đến và đã cho bùa chú để họ dán trong nhà khiến con cháu mạnh giỏi, làm ăn phát đạt. Niềm tin Phật như vậy, họ rất dễ tin mà cũng rất dễ bỏ, nếu một sở nguyện được thành, hoặc không toại nguyện.

3.- TIN PHẬT QUA NHỮNG HÌNH THỨC TÀ GIÁO

Có những người đến với Phật, không do hiểu Phật pháp mà nhờ ông Đồng, bà Cốt mách phải qui y Phật sẽ khỏi tai nạn chẳng hạn, họ liền đến chùa xin qui y. Hoặc có người do xin xăm hay bói quẻ, trong xăm quẻ dạy theo Phật hay thờ Phật thì mọi sự an lành..., họ liền phát nguyện qui y Phật.

Hoặc vị Trụ trì có học bùa chú trừ ma ếm quỉ, người có con bệnh đến nhờ thầy trị chữa, nếu con lành bệnh liền xin qui y Phật...

B. THÁI ĐỘ SAI LẦM CỦA GIỚI TRÍ THỨC NGHIÊN CỨU PHẬT

Đa số người trí thức gần đây chịu khó nghiên cứu Phật giáo, tìm thấy những triết lý cao siêu trong Tam Tạng giáo điển, họ tỏ vẻ thích thú; nhưng nhìn lại hình thức cúng kính, nghi lễ trong chùa chiền, họ cực lực phản đối, cho đó là sự sai lạc lớn lao đáng trách. Giới trí thức y cứ những điểm như sau để phàn nàn Phật giáo hiện tại.

1.- CĂN CỨ LÝ NHÂN QUẢ

Căn cứ lý nhân quả, mình gây nhân thì mình chịu quả, dù cha con cũng không thay thế nhau được, huống là kẻ khác. Nhân đã gây thì quả phải chịu; nguyện cầu, cúng tế, làm phước... của người khác không liên hệ gì đến người này cả. Như A ăn thì A no, không thể A ăn mà B no được.

Vì thế, những người khuyên cầu nguyện, cúng dường, bố thí... chỉ gây thêm sự mê tín dị đoan, trong Phật giáo không thừa nhận điều đó. Bởi nhận xét trên, nên giới trí thức cực lực phản đối việc cúng dường, cầu nguyện..., cho hành động như thế là sai Phật pháp, là bị nhóm người tu lợi dụng.

2.- CĂN CỨ THUYẾT VÔ NGÃ, VÔ TRƯỚC

Nhìn vào Phật giáo thấy thuyết vô ngã, vô trước thật là hệ trọng. Nếu người tu không phá được ngã chấp thì không sao giải thoát được. Muốn dứt ngã chấp thì tự mình phải lắm công phu trừ diệt. Không ai có thể làm cho ai được giải thoát, nếu người ấy không dứt trừ ngã chấp thật sự. Người không tự cố gắng phá trừ ngã chấp, mà sau khi chết, trong thân quyến thỉnh chư Tăng đến cầu siêu, mong được giải thoát thật là điều vô lý.

Phật giáo nhằm vào tự lực, mỗi người phải tự độ lấy, đừng ỷ lại vào ai cả. Dù đức Phật cũng không thể cứu độ chúng ta được, nếu chúng ta không tu. Như vậy, làm gì có do tụng kinh mà độ được các vong linh. Nếu người chủ trương tụng kinh cầu siêu, độ được các vong linh, đó là tà đạo chớ không phải Phật giáo. Bởi y cứ những điểm giáo lý như trên, giới trí thức nghiên cứu Phật giáo rất bất bình việc thực hành tu tập của tín đồ và chư Tăng hiện tại. Cho rằng tín đồ mù quáng đi sai lạc, chư Tăng lợi dụng để no cơm ấm áo.

C. DUNG HÒA

Hai thái độ trên không khéo trở thành cực đoan. Một bên nặng phần tín ngưỡng, thiên về hình thức cung kính, quên lãng phần tự tu, không chịu học hỏi giáo lý. Một bên thiên về triết lý, chú mục vào triết lý, bỏ sót phần tín ngưỡng. Phật giáo còn tồn tại đến ngày nay là do bao trùm cả triết lý và tín ngưỡng. Nếu bỏ mất một trong hai phần thì Phật giáo không còn là Phật giáo nữa. Cho nên những người chấp một cách cực đoan trong hai thái độ trên đều là sai lầm.

1.- SAI LẦM CỦA NGƯỜI NẶNG PHẦN TÍN NGƯỠNG

Người tu theo đạo Phật phải có sức mạnh tinh thần để cải đổi những tâm niệm, hành vi, ngôn ngữ sai lầm trở thành chân chánh. Chính khi đứng chắp tay tụng kinh hay lễ Phật, chúng ta cũng thấy biểu lộ đầy đủ ý nghĩa này.

Người Phật tử đứng trong điện Phật, hai tay chắp lại theo hình hoa sen búp, gọi là Liên hoa ấn, để ngay giữa ngực, ngay quả tim, nói lên tâm tư thanh tịnh. Mắt nhìn xuống cốt phản tỉnh, tự quán sát nội tâm mình. Thân ngay thẳng trang nghiêm, miệng tụng kinh, niệm Phật, để biểu lộ thân thanh tịnh và khẩu thanh tịnh.

Hình thức nghi lễ ấy không có nghĩa là cầu xin, ỷ lại vào đức Phật, mà chỉ cần yếu giữ gìn ba nghiệp thanh tịnh. Bởi thiếu khung cảnh trang nghiêm, chúng ta muốn kềm thúc thân tâm thanh tịnh rất khó khăn, nên hình thức nghi lễ là phương tiện giúp chúng ta thực hiện được điều ấy. Đừng lầm rằng Phật ban cho ta sự thanh tịnh. Chính Phật đã dạy:

Làm dữ bởi ta mà nhiễm ô cũng bởi ta,

làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta.

Tịnh hay bất tịnh đều bởi ta,

chớ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được.

(Kinh Pháp Cú, bài 165, Thượng tọa Trí Đức dịch)

Lại làm lành làm dữ cũng tại ta thì Phật đâu ban phước, giáng họa cho ta được. Cho nên quan niệm Phật như vị thần linh thật là sai lầm. Người Phật tử phải nhằm vào tự lực nhiều hơn. Kinh Pháp Cú chép:

Chính tự mình làm chỗ nương cho mình, chớ người khác làm sao nương được?

Tự mình khéo tu tập mới đạt đến chỗ nương dựa nhiệm mầu.

(Kinh Pháp Cú, bài 160)

Tuy nhiên, người Phật tử vẫn phải cúng dường, lễ bái Phật, nhưng cúng dường Phật là để phát thiện tâm, lễ bái Phật là tỏ lòng khát khao giải thoát giác ngộ. Không nên có quan niệm cúng dường Phật cầu Phật ban ơn, lễ bái Phật cầu Ngài tha tội. Dù cho lễ Phật sám hối cũng không có nghĩa cầu tha tội. Đó chẳng qua nhờ Phật làm đối tượng để phát tâm ăn năn chừa cải và hổ thẹn. Có biết như thế thì sám hối mới hết tội.

Chúng ta hãy trả đức Phật trở về vị trí của Ngài là bậc “Đạo sư”. Chúng ta cũng phải tu tập đúng với tinh thần Phật tử là tự độ, độ tha. Đừng bao giờ xem đức Phật đủ cả quyền năng ban phước, giáng họa. Cũng không nên ỷ lại, gởi gắm cả đời mình vào quyền năng của Ngài. Nếu có tư cách đó là phản bội đức Phật và cũng không phải là người Phật tử.

2.- SAI LẦM CỦA NGƯỜI NGHIÊNG VỀ TRIẾT LÝ

Người trí thức thiên trọng phần triết lý nên thấy sự lễ bái, cúng dường, cầu nguyện... đều không chấp nhận, mà lại phản đối. Cho rằng Phật giáo hoàn toàn tự lực, không bao giờ nương tựa vào cái gì bên ngoài. Nếu Phật giáo chỉ dạy một bề như thế thì những người đầy đủ ý chí, giàu nghị lực mới tu được, còn những người thiếu ý chí, kém nghị lực không thể tu theo đạo Phật sao? Như thế, Phật giáo không có ý nghĩa khế cơ rồi. Vì hạng người đầy đủ ý chí, giàu nghị lực rất hiếm trong xã hội này. Cho nên, cái nhìn cực đoan như vậy đưa Phật giáo đến chỗ khô khan, cô quạnh.

Hơn nữa, nơi mỗi con người chúng ta đều có hai phần, tình cảm và lý trí. Nếu có người chỉ thuần tình cảm, không có lý trí thì họ chìm đắm trong biển thương yêu mê hoặc. Ngược lại có người ròng rặt lý trí, không có tình cảm thì họ khô khan cô độc. Con người ví như cây trồng xuống đất, tình cảm là chất nước, lý trí như ánh nắng.

Thiếu một trong hai thứ ấy, cây nhất định không sanh trưởng được mà phải khô héo lần. Một tôn giáo cũng thế, triết lý và tín ngưỡng không thể thiếu một được. Nếu thiếu một, tôn giáo ấy sẽ chết mòn. Cho nên, chủ trương cực đoan về triết lý của giới trí thức này cũng là tai họa của Phật giáo.

Lại, chúng ta thử xét ý nghĩa cúng dường, cầu nguyện có sai tinh thần Phật giáo hay không? Người Phật tử ai cũng biết lý nhân quả, thuyết vô ngã, vô trước là nền tảng của Phật giáo. Như thế, sự cúng dường được phước đức có phản bội lý nhân quả chăng? Người này cầu nguyện, người kia được siêu độ, có trái vô ngã hay không?

- Thưa không!

Bởi vì lý nhân quả tế nhị lắm, không thể đơn giản rằng “mình làm mình chịu”,có khi không làm lại có chịu, mà vẫn không trái lý nhân quả. Ví như ông A là người chủ sở giàu có, anh B là người làm công nghèo khổ. Một hôm vì một chuyện không đâu, ông A nóng giận đánh anh B.

Lý đáng anh B phải trả thù bằng cách đánh lại. Nhưng sau khi qua cơn nóng giận, ông hối hận hành động vô ý thức của mình. Ông không can đảm đến xin lỗi B, phải nhờ người thân của B xin lỗi hộ, và ông cho B một số tiền khá hậu. Vì thế, cái quả của anh B phải trả lại ông A có thể không còn nữa. 

Lại gia đình kia có hai anh em là Xoài và Mít. Anh Xoài hiền lành dễ thương, nhưng Mít lại hung dữ đáng ghét. Một hôm Xoài đi làm ngoài đồng, Mít ở nhà đánh lộn với người hàng xóm. Đang cơn ẩu đả nhau, rủi Xoài về tới, tuy Xoài không định tâm bênh em, nhưng người kia sợ Xoài bênh nên vội vàng đập Xoài một gậy. Trường hợp này Xoài thật vô tội mà vẫn ăn đòn.

Thế nên, việc đó không phải tự mình gây, rồi tự mình chịu. Có khi người khác gây mà mình chịu, như trường hợp Xoài và Mít. Có khi tự mình gây mà không chịu như trường hợp A và B. Nhưng nói như thế không phải ngoài lý nhân quả.

Vì nhân quả có chánh nhân, trợ nhân, thuận nhân, nghịch nhân... Tuy chánh nhân đã gieo mà gặp nghịch nhân phá hoại thì không thể nào kết quả.

Như ta gieo hạt lúa xuống đất nhất định lên cây lúa, nhưng bị dế cắn khi mới nảy mầm thì làm sao sanh cây lúa? Đó là có chánh nhân đánh người của ông A, mà quả người đánh lại không có.

Hoặc có khi chánh nhân này mà do trợ nhân biến thành cái khác. Như chúng ta trồng cây cam ngọt, đến lớn lên có người lén cắt nhánh chanh tháp vào, khi kết quả không được cam ngọt, mà chỉ có chanh chua. Đây là không gây nhân đánh đập mà bị quả đánh đập của anh Xoài vậy.

3.- DUNG HỢP

Trong cuộc sống tương quan tương duyên này, chúng ta đừng nghĩ tưởng một cách giản dị rằng: “mình làm mình chịu”. Quan niệm ấy rất là thô sơ máy móc. Bởi sự ràng rịt giữa mình và xã hội phức tạp vô cùng. Xã hội đẹp mình cũng được ảnh hưởng đẹp, xã hội xấu mình cũng chịu ảnh hưởng xấu. Tuy nhiên cũng có một vài người thoát khỏi sự ràng rịt của xã hội, nhưng đó là bậc Thánh nhân. Đến như việc tụng kinh cầu nguyện được siêu thoát cũng không có ý nghĩa một bề ỷ lại vào tha lực. 

Con người chúng ta kết hợp bởi hai phần, tinh thần và vật chất. Người tâm hồn tán loạn thì tinh thần yếu đuối, bị vật chất chi phối. Những vị tâm hồn an tịnh thì tinh thần mạnh mẽ phi thường, làm chủ được vật chất. Như trong kinh nói“Chế tâm nhất xứ vô sự bất biện” (Kềm tâm một chỗ việc gì cũng xong) (Kinh Phật Di Giáo).

Một bằng chứng cụ thể, khi chúng ta có việc mừng quá, hay giận quá liền quên đói. Lúc đó tâm chỉ nhớ vào việc mình được để mừng, hoặc tâm chỉ nhớ điều tức giận đều quên đói. Cho nên có nhiều vị Thiền sư khi chú tâm vào định năm bảy ngày mà không cần ăn uống, như Huệ Sinh thiền sư đời Lý. Sử chép:

Khi được Sư phụ truyền tâm pháp cho, Ngài mới đi hành hóa khắp chốn Tòng Lâm, rồi lên ở núi Bồ-đề. Mỗi lần Ngài ngồi nhập định tu pháp ít nhất năm bảy ngày. Người đời bây giờ thường gọi Ngài là ông “Phật xác thịt”. Vua Lý Thái Tôn nghe tiếng Ngài, sai Sứ đến vời.

Ngài bảo Sứ rằng: Ông không thấy con sanh trong lễ tế ư? Khi chưa tế thì người ta cho nó ăn cỏ thơm, mặc áo gấm, đến khi dắt vào Thái miếu thì nó chỉ muốn cầu chút sống sót, còn nói đến việc gì? Nói rồi Ngài từ chối, không chịu đi.

(Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, trang 124 của Thượng tọa Mật Thể)

Gần đây như ngài Hư Vân hòa thượng ở Trung Hoa, có lần nhập định đến nỗi cháo lên meo xanh. Đó là những bằng chứng tinh thần mạnh điều khiển được vật chất. Chẳng những điều khiển được bản thân mình mà còn sai khiến kẻ khác theo ý muốn của mình. Như các nhà thôi miên chỉ dùng sức tập trung tư tưởng, khi đã thành công lại có thể dùng sức mạnh tinh thần sai khiến người khác làm theo ý muốn của mình.

Như vậy mới biết tinh thần có sức mạnh vô biên mà chúng ta không biết gom góp nó lại và tận dụng khả năng của nó. Những người chỉ nhìn cận thị trên hình thức vật chất làm gì hiểu nổi điều này.

Nói đến người chết, nhà Phật cho biết, sau khi tinh thần rời bỏ thân tứ đại này, người chết được kết hợp bởi thân tứ đại tinh anh, mắt phàm không thấy được. Thân đó nhẹ nhàng, đi lại nhanh nhẹn và dễ cảm thông. Việc tụng kinh cầu nguyện không phải các vị Sư đủ sức cứu vớt những kẻ ấy, mà dùng sức mạnh tinh thần chuyên chú để soi thấu tâm tư của họ bằng những tia lửa thanh tịnh an lành, khiến họ thức tỉnh chuyển tâm hồn đen tối thành sáng suốt, ác độc thành lương thiện.

Thế là cứu độ họ thoát khỏi khổ đau. Nói cứu độ, kỳ thật tự họ chuyển lấy, người tu chỉ làm trợ duyên giúp bên ngoài thôi. Như thế, đâu có trái với nghĩa tự giác, tự ngộ của Phật giáo. Đọc kinh Vu Lan Bồn, chúng ta thấy rõ ý nghĩa này.

Cho nên sự cúng dường, cầu nguyện của Phật giáo không phải hoàn toàn ỷ lại như vài tôn giáo khác. Cúng dường, cầu nguyện là nhằm vào chỗ phát tâm thiện của ta và làm duyên xoay chuyển tâm niệm của người. Nếu chúng ta cúng dường, cầu nguyện bằng cách hình thức máy móc thì không lợi ích gì cho ta và cho người cả. Sự cúng dường, cầu nguyện với thành tâm, thiện ý thì kết quả tốt đẹp vô cùng. Kinh Phật dạy:

Kẻ nào cúng dường những người đáng cúng dường, hoặc chư Phật hay đệ tử, những vị thoát ly hư vọng, vượt khỏi hối hận lo âu, công đức của người đã cúng dường các bậc tịch tịnh vô úy ấy, không thể kể lường.

(Kinh Pháp Cú, bài 195-196)

Do đó, chúng ta không thể kết luận rằng cúng dường, cầu nguyện đều do chư Tăng bịa ra để lợi dụng lòng mê tín của tín đồ. Nếu chịu khó kê cứu tất cả kinh điển của Phật giáo, chúng ta sẽ thấy rất nhiều bài kinh dạy như trên. Tuy nhiên, hiện tại vẫn có một ít người lợi dụng lời Phật dạy, khuyến khích tín đồ chuyên lo cúng dường, cầu nguyện để họ lấy đó làm nghề sanh nhai. Đó là hạng người bán Phật, không đáng lưu tâm.

Tóm lại, muốn dung hòa cho thích hợp tinh thần Phật giáo, hai thái độ cực đoan trên phải hòa hợp lại. Đừng nhìn một bên mà thành thiển cận. Phải dung hợp, thấu đáo mọi khía cạnh thì sự tu tập mới thu hoạch được kết quả viên mãn, đúng với tinh thần trung đạo của Phật giáo. Còn mắc kẹt một bên, dù học Phật, tụng kinh Phật vẫn thuộc về tà đạo. Phải cởi mở sáng suốt để thực hiện kỳ được tinh thần Viên dung, Trung đạo của Phật giáo. Được vậy mới xứng đáng là một Phật tử chân chánh.

HT. Thích Thanh Từ

 

01/10/2016

Lục Tà trong chữa bệnh

Bài viết do Jennifer Dubowsky


Đông y cho rằng bệnh tật đến từ cả nội thân và ngoại cảnh chính là thất tình lục dục.
Thất tình là nguyên nhân bên trong:  hỉ (vui), nộ (giận), ái (thích), ố (ghét), bi (buồn), tư (lo âu), khủng (sợ sệt).
Các nguyên nhân từ ngoại cảnh được gọi là “lục dâm” hay “lục tà” bao gồm: phong (gió), hàn (lạnh), thử (nắng), thấp (độ ẩm), táo (độ khô), hoả (nóng). Trong bài viết này, tôi sẽ nói về Lục Dâm hay Lục Tà. Tất nhiên còn có các yếu tố khác góp phần vào bệnh tật, như chế độ dinh dưỡng, tai nạn và lối sống …
Là người thực hành Đông y, khi một người bệnh tìm đến tôi, tôi sử dụng các mô hình này để tìm ra nguyên nhân gây bệnh.
Các tên gọi của Lục Tà (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa) có nguồn gốc từ hàng ngàn năm trước mô tả chính xác nhiều loại bệnh cùng biểu hiện của các rối loạn trong cơ thể.
Ví dụ như trong tự nhiên, phong (gió) thường thay đổi như chong chóng, cứ đến và đi mà không báo trước. Tương tự, các triệu chứng liên quan đến phong cũng thường đặc trưng bởi sự đến và đi, đôi khi đột ngột.
Bạn đã lần nào đột nhiên bị một cơn đau đầu mà nó chấm dứt một cách bí ẩn cũng như khi nó đến chưa? Đó là sự tấn công bởi phong. Và, nếu bạn có cơn đau đầu tương tự cộng với một khuôn mặt đỏ bừng và toát mồ hôi, thì nhiệt có thể dùng để miêu tả các triệu chứng này.
Hãy điểm qua một số triệu chứng phổ biến của mỗi Lục Tà
Phong (gió): Một trường hợp nhiễm phong bao gồm cách triệu chứng như hắt hơi, đau đầu, và sung huyết. Gió cũng khiến các yếu tố gây bệnh (hoặc bệnh) dễ dàng xâm hại cơ thể bạn, bởi nếu bạn thực sự cảm thấy hơi suy nhược và hệ thống miễn dịch kém, thì có nhiều khả năng bạn dễ bị tổn thương.
Hàn (lạnh): Sự xâm nhiễm bởi hàn có thể từ từ, dồn đọng, và làm suy giảm khí huyết. Triệu chứng tương tự như khi bạn bị run lên và co ro lúc bị lạnh. Các biểu hiện của việc thừa khí hàn là bị ớn lạnh, run rẩy, lạnh chân tay, xanh xao, chuột rút đau đớn, hoặc co thắt.
Hỏa: Hỏa tà gây tổn hại chất dịch trong cơ thể, làm nhiễu loạn tâm trí và có thể làm hỏng khí âm trong người. Các triệu chứng của hỏa là đỏ mặt hoặc mắt, khát, sốt, da dẻ tối lại hoặc nhiều dịch vàng (đờm màu vàng hoặc nước tiểu màu vàng), khó ở, ra mồ hôi và ngứa ngáy.
Táo (khô): Các vấn đề về táo có nhiều điểm tương đồng với thử; cả hai tồn tại một cách liên tục. Táo tập trung vào việc tiêu thụ dịch chất đặc biệt là liên quan đến phổi. Đó là tại sao hầu hết các triệu chứng liên quan đến cơ quan này hoặc biểu hiện tình trạng khô. Ví dụ như ho khan, da khô, lưỡi khô, môi nứt nẻ và táo bón.
Thấp (ẩm): Sự thừa tính thấp thường có nguyên nhân từ việc sinh sống hoặc làm việc trong một môi trường ẩm thấp. Một cách khác để nhìn nhận về thấp đó là tình trạng chất lỏng trong cơ thể bị trì trệ hoặc xáo trộn. Các triệu chứng của thấp bao gồm việc cảm thấy nặng nề, phù thũng, chậm chạp, đờm dính, và nước tiểu cặn.
Thử (nắng): là một tác nhân gây bệnh từ bên ngoài chỉ xảy ra khi bạn tiếp xúc với nhiệt độ cực cao và/hoặc kéo dài. Các triệu chứng mà bạn có thể hay gặp bao gồm đổ nhiều mồ hôi, khó thở, chóng mặt và buồn nôn. Nó chính là say nắng.
Qua hàng nghìn năm quan sát và nghiên cứu, các nhà Y học Cổ truyền đã phát triển sáu yếu tố mà cho đến nay vẫn còn tính ứng dụng cao. Xác định được loại triệu chứng mà bạn đang gặp phải sẽ giúp các bác sĩ tìm ra loại thảo dược và huyệt vị phù hợp để điều trị.
Ví dụ, nếu bạn đang bị thừa nhiệt (hỏa), các thảo dược có tính hàn là thích hợp; nếu bạn bị thừa ẩm (Thấp), các thảo mộc khô trong tự nhiên sẽ được chọn dùng. Ý tưởng tương tự như vậy được áp dụng trong châm cứu. Nếu bạn đang bị chuột rút đau đớn gây ra bởi sự dồn đọng hàn, tôi có thể áp dụng nhiệt vào khu vực này và chọn các huyệt giúp cải thiện dòng lưu thông của khí huyết từ đó làm giảm cơn đau.


30/09/2016

Hà Nội khoảng đầu TK 19


Phố Cờ Đen, nay là Phố Mã Mây
Phố Hàng Hòm.
Phố Hàng Hòm.
Múa rồng trên phố Hàng Quạt.
Phố Sinh Từ.
Phố Lò Rèn.
Phố Hàng Tre.
Chợ Đồng Xuân
Phố Hàng Nón.
Phố Hàng Đồng.
Phố Hàng Đồng.
Tháp nước Hàng Đậu.
Phố Hàng Thiếc.
Phố Quảng Đông, tức Phố Hàng Ngang.
Gia đình người Hoa trên phố Hàng Ngang.
Phố Hàng Mắm.
Phố Hàng Đào với đường ray xe điện chạy qua.
Phố Hàng Đào.
Đầu phố Hàng Đào, nhìn từ phía đài phun nước bờ hồ.
Phố Hàng Chén.
Phố Hàng Buồm.
Phố Hàng Bạc.
Phố Hàng Bạc.
Phố Hàng Bè.
Phố Hàng Trống.
Ô Quan Chưởng ở phố Hàng Chiếu.
Bến tre nứa bên sông Hồng.
Chợ tre nứa Hà Nội.
Cửa Đông thành Hà Nội.

28/09/2016

Hãy thấu hiểu các nghịch lý để sống thanh thản.



Cuộc đời là một chuỗi những nghịch lý, nếu hiểu được bạn sẽ không còn vướng bận, khổ tâm hay trách móc nữa.
1. Bạn càng cố gây ấn tượng với người khác thì người ta lại chẳng thấy có gì thú vị.
Bởi vậy mới nói, “cố quá là quá cố”, cố gắng thành ra giả tạo, gượng gạo, làm tụt cảm xúc của người khác. Tốt nhất là cứ bình thường thôi và đừng cho ai là đặc biệt.
2. Bạn càng thành thật về những lỗi lầm của mình, người ta càng nghĩ rằng bạn hoàn hảo. Bởi vì bạn thoải mái với sự không hoàn hảo của mình, nên người ta sẽ nghĩ bạn “perfect”.
3. Cái gì càng sẵn có, bạn càng không thích. Con người thích những cái gì quý hiếm. Tình cảm cũng vậy, càng đầy thì càng vơi.
4. Bạn càng có nhiều lựa chọn thì bạn càng có ít sự thỏa mãn với những thứ mình có được
Đó là “nghịch lý của sự lựa chọn”. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi chúng ta có càng nhiều lựa chọn thì mức độ thỏa mãn đối với những thứ chúng ta có được càng ít đi.
5. Bạn càng cố giữ ai đó ở gần thì bạn sẽ càng đẩy người đó ra xa bạn
Đây là những điều gây tranh cãi về sự ghen tuông trong các mối quan hệ; một khi cảm xúc và hành động mang tính nghĩa vụ, nó sẽ mất đi ý nghĩa của mình. Nếu bạn cố ép bạn gái phải dành cả ngày cuối tuần chỉ để ở bên bạn thì khoảng thời gian ấy cũng sẽ trở nên vô nghĩa mà thôi.
6. “Bạn có thể sẽ bị phản bội khi giúp đỡ người khác. Nhưng dù sao đi nữa, hãy giúp đỡ mọi người.”
7. Bạn càng học nhiều thì bạn càng nhận ra mình biết ít
Một câu ngạn ngữ cổ đã khẳng định: “Mỗi khi bạn tăng thêm một phần hiểu biết, nó thậm chí đặt ra nhiều câu hỏi hơn cả những gì bạn đã giải quyết được”.
8. Bạn càng ghét một điều gì đó ở người khác, nhiều khả năng bạn đang trốn tránh chính điều đó ở bản thân mình
Chẳng hạn, một người thường xuyên lo lắng về cân nặng sẽ luôn nói những người khác béo. Một người đàn ông bận tâm về tiền thường chỉ trích những người có chung mối bận tâm ấy.
9. “Bạn trao tặng cuộc sống tất cả những gì tốt đẹp nhất và nhận lại một cái tát phũ phàng. Nhưng dù sao đi nữa, hãy sống hết mình cho cuộc sống.”
10. Bạn càng gặp nhiều thất bại thì bạn càng dễ gặt hái được thành công
Có lẽ bạn đã từng nghe thấy câu nói này ở nhiều nơi nhưng tôi vẫn muốn nhắc lại. Hãy nhớ rằng chính Edison cũng phải thừa nhận rằng ông đã có tới hơn “10 nghìn bài học thất bại” trước khi cho ra đời 1 chiếc bóng đèn có thể làm việc.
11. Bạn càng sợ chết thì càng khó tận hưởng cuộc sống. Có câu thế này: “Cuộc sống co lại hay mở rộng tỉ lệ thuận với lòng can đảm của bạn”.
12. Bạn càng thành thật về những lỗi lầm của mình bao nhiêu thì mọi người càng nghĩ bạn hoàn hảo bấy nhiêu
13. Bạn càng cố tranh cãi với ai đó thì càng ít khả năng bạn thuyết phục được người đó nghe theo mình
Lý do cho điều này là bởi hầu hết các cuộc tranh cãi bắt nguồn từ cảm xúc. Chúng đến từ việc một ai đó cảm thấy các giá trị hay nhận thức của mình bị đe dọa. Logic chỉ được sử dụng để kiểm chứng và xác nhận những niềm tin và giá trị tồn tại từ trước đó.
14. Nếu bạn ghét 1 đặc điểm nào ở người khác, thì đặc điểm đó chính là sự phản chiếu một phần con người bạn nhưng bạn không chịu thừa nhận, không thể chấp nhận.
Chẳng hạn, bạn chê người ta mập nhưng thực tế bạn phải cố nhịn ăn để cho ốm, bạn chê người ta xài hoang phí vì bạn không có tiền để xài hoang.
15. Người quá đa nghi thì cũng không đáng tin.
Người luôn cảm thấy bất an, nhìn ai cũng bằng con mắt nghi ngờ thì bản thân họ đang ngầm phá hoại chính những mối quan hệ của mình. Một cách mà người ta dùng để bảo vệ bản thân chính là khiến người khác tổn thương trước.
16. Càng không cần gì cả thì bạn sẽ có được tất cả.
17. Chúng ta càng dễ kết nối với nhau thông qua các phương tiện sẵn có, thì chúng ta càng thấy cô đơn.
Thế giới ngày càng trở nên cô đơn và trầm uất trong vài chục năm gần đây, do đó hãy sống thực với mình. Những cái gì quá ảo sẽ khiến bạn bớt tự tin trong đời thực.
18. Điều duy nhất chắc chắn chính là chẳng có gì chắc chắn. Hiểu được điều này bạn sẽ bớt bi lụy và trông chờ hơn.


25/09/2016

Uy quyền không đồng nghĩa là Vĩ nhân và càng không phải là Thánh nhân

st trên Net.



Thật là ngớ ngẩn. Tôi có là trí thức ngang hàng với Mises không?
Tất nhiên là không. Tôi sẽ là một thằng ngốc nếu nghĩ như thế.
Tuy nhiên, sự kém cỏi về mặt trí tuệ của tôi không có nghĩa là khi tôi không đồng ý với Misies về một vấn đề cụ thể nào đó, thì bao giờ tôi cũng sai.
Tôi có là người trí thức ngang hàng với Einstein không?
Câu hỏi thật là lố bịch.
Tuy nhiên, về những vấn đề cụ thể nhất định, khi Einstein và tôi có ý kiến khác nhau, ông rõ ràng là người đã sai. Tôi có thể giải thích, tôi tin khá chắc chắn như thế, vì sao chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội không thể nào đạt được những mục tiêu mà những người xã hội chủ nghĩa đầy thiện ý như Einstein tin là sẽ đạt được. Đơn giản là Einstein không biết nhiều về kinh tế học, dù ông có là nhà vật lý học vĩ đại đến mức nào.
Bất cứ người nào cũng có thể có sự khác biệt tương tự như thế. Chắc chắn là có hàng triệu người - có thể là hàng trăm triệu – nói chung, là giỏi hơn tôi về mặt trí tuệ. Nhưng, như thế không có nghĩa là khi tôi có ý kiến khác với một trong những người đó, thì tôi là người sai.
Viện dẫn uy quyền là ngụy biện, chắc chắn là thế, nhưng khi người ta xem xét một vấn đề mà người có uy quyền – do những đóng góp về trí tuệ của họ - đã đặt niềm của của mình vào, thì viện dẫn là hầu như không thể tránh khỏi trong một số cuộc thảo luận – những người nghiệp dư ít có cơ hội trở lại bàn vẽ, trên đó, những người có uy tín đã trình bày luận cứ và trưng ra bằng chứng.
Nhưng khi những người có uy quyền nói về những vấn đề nằm ngoài kiến thức chuyên môn thật sự của họ, thì họ cũng thường nói ngu như ai và người nghe phải luôn luôn nhớ trong đầu như thế.
Tôi nhớ rằng sau khi George Stigler (1911-1991, Nobel kinh tế năm 1982 – ND) được tuyên bố là sẽ được trao giải Nobel về kinh tế, rất nhiều nhà báo gọi điện tới. Họ hỏi ông về những vấn đề như điều gì sẽ xảy ra với chu kỳ kinh doanh, thị trường chứng khoán và lãi suất.
George đã làm các phóng viên bối rối bằng cách trả lời rằng ông không biết gì. Mặc dù ông là một nhà kinh tế học xuất sắc, nhưng ông không làm trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô hay tài chính, và do đó ông không có kiến thức chuyên môn để trả lời những câu hỏi như vậy (thực ra, trong trường hợp này, ngay cả các nhà kinh tế làm việc trong những lĩnh vực đó cũng khó có thể đưa ra câu trả lời có giá trị, vì như tất cả những người khác, họ không biết tương lai).
Người thông thái (dịch thoát ý từ Renaissance men – tức những người thông thái như những người thời kì Phục hưng – ND) bao giờ cũng hiếm, ngay cả trong thời Phục hưng. Vì vậy, khi một học giả nào đó trình bày quan điểm về nhiều chủ đề khác nhau thì khả năng sai trong một hay nhiều phát biểu là khá lớn. Các học giả đi ra ngoài lĩnh vực của mình có thể bị một người nhẹ đồng cân hơn hẳn, nhưng chuyên tâm vào lĩnh vực đang bàn, sửa gáy là chuyện bình thường.
Không có Thánh nhân khi cậy nhờ đến Uy quyền
Hơn nữa, ai cũng có thể sai, dù nhà tư tưởng nào đó có thông thái đến đâu thì cũng thế. Người bạn cũ của tôi, Murray Rothbard, thường tuyên bố rằng trong lĩnh vực kinh tế, các nhà tư tưởng được đánh giá cao nhất, trên thực tế, lại có nhiều khả năng sai ngay trong lĩnh vực mà họ được coi là chuyên gia có uy tín nhất (Milton Friedman, trong lý thuyết tiền tệ, là một trong những ví dụ mà ông hay nhắc tới).
Mặc dù tôi có khuynh hướng cho rằng, trong trường hợp này, Murray đã quá cường điệu, nhưng có một phần sự thật trong những lời nói của ông. Ai cũng có thể mắc sai lầm, và những nhà tư tưởng lớn cũng không thoát được khiếm khuyết này, ngay cả trong những lĩnh vực chuyên môn của họ.
Khi thấy các đồ đệ của một tư tưởng gia nào đó coi mỗi lời nói của ông ta như Chân lý được Hiển lộ, chứ không phải là kết luận sai lầm, thì chúng ta biết rằng họ đã biến tư tưởng gia đó từ một học giả hay người trí thức chân chính thành biểu tượng của giáo phái.
Đáng tiếc là một số bậc thầy đáng kính nhất của tôi, những người như Mises, đã phải chịu số phận như thế, như Rothbard và ở một mức độ thấp hơn, là F. A. Hayek. Quá trình phát triển như thế một phần là do ý thức hệ hay ngụ ý từ những trước tác của các tác giả và một phần từ ý nghĩ cho rằng những tổ chức có thẩm quyền về trí tuệ đã không tôn trọng họ như họ đáng được hưởng và do đó đã coi họ là người anh hùng, cả với tư cách cá nhân lẫn trí tuệ, đến mức không thể sai lầm.
Tôi tin rằng cả Mises lẫn Hayek đều không đồng ý để người ta biến mình thành biểu tượng tôn giáo. Học hỏi và tôn trọng những nhà tư tưởng vĩ đại là việc tốt, nhưng dù họ có vĩ đại đến mức nào thì tự nhiên cũng không ban cho họ khả năng không thể sai lầm, vì thực tế là, tự nhiên không ban cho ai khả năng như thế.

Vì vậy, đôi khi, tư tưởng của ngay cả một nhà tư tưởng lớn cũng có thể bị một nhà tư tưởng kém hơn hẳn về mọi phương diện chứng minh là sai.

Cấp cứu xử lý các tai nạn dễ gặp

Nguồn VN Express
Cẩm nang xử trí cấp cứu các tai nạn thường gặp

23/09/2016

Độ dài tiêu cự trong nhiếp ảnh

Tiêu cự là thông số cho biết góc nhìn của máy ảnh, số lượng nội dung thu vào hình ảnh được quyết định bởi độ dài tiêu cự, do đó, thông số này càng nhỏ, nội dung lọt vào ống kính càng nhiều và ngược lại.
  •  Độ dài tiêu cự trong nhiếp ảnh