22/02/2019

Tiến hay bại là từ Nhận thức


Mỗi lần đi họp lớp hoặc gặp lại các bạn cũ năm xưa, chắc chắn chúng ta đều từng có suy nghĩ: “Tại sao ngày xưa nó cũng như mình mà giờ lại thành công đến thế, trong khi mình vẫn chỉ là một nhân viên quèn?”.
Những cậu bạn chí cốt từng cùng nhau quậy phá, ráo riết ôn bài chuẩn bị thi cử, học hành cùng trường, cùng lớp, cùng một giáo viên dạy dỗ mà ra, đều ôm chí lớn bước chân ra ngoài xã hội, vậy mà sau 10 năm, có người làm chính trị gia, lại có người thành nhà khoa học; có người làm công chức nhà nước, lại có người ở nhà bán hàng trên mạng; có người công thành danh toại, có người lại thất bát túng thiếu; tại sao có sự khác nhau một trời một vực như vậy?
Trên thực tế, người có IQ cao chưa chắc đã thành đạt mà vẫn phải đi làm thuê cho kẻ khác.
Sự khác biệt giữa người với người chủ yếu nằm ở hai chữ “Nhận thức”: Nhận thức về bản thân, nhận thức về người khác và nhận thức về thế giới xung quanh.
Nhận thức khác nhau sẽ dẫn tới sự lựa chọn và hành động khác nhau, tất nhiên cũng sẽ đem về kết quả khác nhau cho mỗi người.
Nhận thức chính là nhân tố tiên quyết định hướng sự phát triển cho mỗi người.
Một người có cuộc sống tốt hay không, có thành đạt giàu có hay không, đều nằm trong sự khác biệt về nhận thức.
Có 3 phương pháp giúp bạn cải thiện nhận thức, dẫn lối tới thành công nên bắt đầu ngay từ hôm nay:
1. Kiên trì học tập
Điều đáng sợ nhất trong cuộc sống chính là mỗi ngày, thế giới đang thay đổi nhanh đến chóng mặt. Từng giây từng phút trôi qua, những điều mới mẻ liên tục sinh ra, thời đại không ngừng biến hóa.
Để bắt kịp với nhịp sống ấy, con người chúng ta cũng phải thay đổi và làm mới bản thân liên tục. Cách tốt nhất chính là không ngừng học hỏi, bổ sung thêm nhiều tri thức.
Trước kia, chúng ta có thể phải mất thời gian tới thư viện để đọc một cuốn sách hoặc ra sạp báo để mua tạp chí về đọc nhưng bây giờ, chỉ cần ngồi một chỗ, ai cũng có thể tìm được rất nhiều thông tin bổ ích từ trên mạng Internet. Việc học tập ngày một dễ dàng và tiện lợi hơn cho chúng ta.
Tri thức có thể đến với ta bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu và bằng mọi cách trên đời.
Tuy nhiên, các nguồn thông tin ngày càng tràn lan, phức tạp và không được kiểm chứng rõ ràng đã khiến người đọc khó tiếp thu, dễ bị ảnh hưởng bởi các thông tin sai lệch, chưa chính xác.
Chính vì vậy, ngoài việc chăm chỉ, chúng ta cần biết cách sàng lọc tin tức và có hệ thống học tập rõ ràng, không bị lan man, mất trọng tâm.
Xây dựng được nền tảng tri thức chắc chắn chính là điều kiện tiên quyết để bạn nâng cao hệ thống tư duy, khả năng nhận thức của mình.
2. Chú trọng thực hành
Biết nhiều đến mấy mà không bắt tay vào làm thì mãi mãi không đem lại thành quả. Chỉ có thực hành mới là cách trực tiếp, hữu ích nhất biến tri thức thành vốn sống của mình.
Ai sống trên đời cũng có cơ hội phát triển nhận thức nhưng không phải người nào cũng nắm bắt thành công.
Ngay khi nghĩ về điều gì đó, bạn hãy là người thực hiện nó đầu tiên. Bắt tay vào làm ngay khi có thể mới khiến bạn hiểu rõ, suy nghĩ trong đầu không thể giải quyết bất cứ vấn đề gì. Cơ hội phát triển sẽ đến từ chính những hành động ấy.
Bắt đầu từ những mảnh ghép nhỏ để hoàn thành bức tranh lớn.
3. Luôn tự đào sâu tìm hiểu
Biết cách đào sâu tìm hiểu vấn đề cũng là một dạng kỹ năng đặc biệt mà ai cũng cần có. Quá trình này ảnh hưởng rất lớn tới hệ thống tư duy cũng như kết quả cuối cùng.
Cách tư duy lập luận chặt chẽ, phân tích rõ ràng và tìm ra trọng điểm nhanh chóng sẽ khiến khả năng nhận thức của bạn được nâng lên một tầm cao mới, có hệ thống và tư duy logic hơn.
Phân tích và đánh giá nhận thức theo từng mứa độ từ thấp đến cao, từ đơn giản nhất đến phức tạp nhưng đừng cụ thể, chi tiết quá.
 Có thể hiểu sâu, hiểu kỹ bản chất vấn đề cũng giúp bạn tránh những sai sót không cần thiết trong quá trình đưa ra quyết định, dễ dàng đi tới cuối con đường thành công hơn.
Hành động này cũng góp phần thúc đẩy hệ thống nhận thức không ngừng được sửa đổi và cải tiến, trở nên hoàn thiện.


20/02/2019

KHỐN KHỔ NƯỚC TÔI

Khalil Gibran, Từ Linh dịch


Khốn khổ nước tôi

Mê tín thì vô hạn

Tôn giáo thì nông cạn

Khốn khổ nước tôi

Mặc áo mình không dệt

Ăn gạo mình không trồng

Uống rượu mình không làm

Khốn khổ nước tôi

Ca ngợi côn đồ là anh hùng

Gọi kẻ xâm lăng là bạn vàng

Khốn khổ nước tôi

Trong mơ thì ghét cay ghét đắng

Tỉnh dậy lại đầu hàng

Khốn khổ nước tôi

Chỉ dám nói năng khi đưa tang

Chỉ dám khoe khoang di sản hoang tàn

Chỉ dám phản kháng khi đầu sắp lìa khỏi cổ

Khốn khổ nước tôi

Chính khách xảo quyệt như chó sói

Triết gia tung hứng chữ làm xiếc

Nghệ thuật bắt chước chắp và vá

Khốn khổ nước tôi

Kèn loa tưng bừng rước kẻ cai trị mới

Rồi tống cổ chúng bằng la hét phản đối

Rồi lại tưng bừng kèn loa đón kẻ cai trị khác

Khốn khổ nước tôi

Vĩ nhân càng nhiều tuổi càng lú

Thánh nhân chờ mãi chưa ra đời

Khốn khổ nước tôi

Cứ chia năm xẻ bảy chơi

Phe nào cũng xưng mình là “đất nước”

 ***
Khalil Gibran (1883-1931) là một nhà văn, nhà thơ, nhà yêu nước người Liban. Ông sinh ra tại thị trấn Bsharri, núi Mutasarrifate trong thời kỳ Đế quốc Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ. Ông di cư tới Mỹ cùng gia đình từ khi còn bé, nơi ông học nghệ thuật và bắt đầu sự nghiệp viết văn.
Trong thế giới Ả Rập, Gibran được coi là một kẻ nổi loạn về văn học và chính trị. Người Liban thì coi ông như một người hùng văn chương. Gibran sống trong thời điểm đất nước Liban trải qua rất nhiều biến động chính trị, tôn giáo, trải qua Thế Chiến thứ nhất.
Trong Khu vườn của Nhà Tiên Tri, thông qua Al Mustafa, Gibran đưa ra quan điểm của mình về hạnh phúc, và làm sao một người có thể sống hạnh phúc. Bài thơ “Khốn khổ nước tôi” (Pity the nation) của Gibran nằm trong cuốn sách này.


19/02/2019

Ngôi chùa cổ Tây Phương

Chùa Tây Phương là một trong những ngôi chùa cổ độc đáo nhất Việt Nam, với sự kết hợp giữa kiến trúc truyền thống, các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc và cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp.
Chùa Tây Phương (tên chữ là Sùng Phúc tự 崇福寺) là một ngôi chùa ở trên đồi Câu Lâu ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Nằm trên núi Câu Lâu ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, chùa Tây Phương (tên chữ là Sùng Phúc tự) là một ngôi chùa cổ nổi tiếng với những nét đặc sắc trong kiến trúc và nghệ thuật.
Theo một số sử liệu, chùa được thành lập từ thế kỷ 6-7 nhưng đã trải qua nhiều lần trùng tu lớn trong lịch sử. Năm 1794, dưới thời nhà Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn và hình dáng kiến trúc còn để lại như ngày nay.
Quần thể kiến trúc của chùa Tây Phương bắt đầu từ chân núi Câu Lâu, với công trình đầu tiên là Tam quan hạ.
Từ Tam quan hạ có 237 bậc thang lát đá ong dẫn đến đỉnh núi.
Cuối các bậc đá ong là Tam quan thượng.
Sau Tam quan thượng, khuôn viên chùa hiện ra với không gian thoáng đãng, rợp bóng cây xanh.
Chùa Chính là hạng mục trung tâm của chùa Tây Phương, có kết cấu kiến trúc chữ Công, bao gồm các tòa Tiền đường, Trung đường và Thượng điện, còn gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng.
Mỗi tòa nhà có hai tầng mái kiểu chồng diêm, tường xây toàn bằng gạch Bát Tràng nung đỏ, để trần mộc mạc, điểm những cửa sổ tròn với biểu tượng sắc và không. Các cột gỗ đều kê trên đá tảng xanh, trong khắc hình cánh sen.
Mái lợp có hai lớp ngói: Mái trên có múi in nổi hình lá đề, lớp dưới là ngói lót, còn gọi là ngói chiếu, hình vuông sơn ngũ sắc như màu áo cà sa xếp trên những hàng rui gỗ làm thành ô vuông vắn đều đặn.
Xung quanh diềm mái của ba tòa nhà đều chạm trổ tinh tế theo hình lá triện cuốn.
Trên mái gắn nhiều linh vật bằng đất nung, các đầu đao mái cũng bằng đất nung đường nét nổi lên hình hoa, lá, rồng phượng giàu sức khái quát và khả năng truyền cảm.
Các tòa nhà được ngăn cách bởi khoảng sân trời thoáng đãng.
Bàn thờ trong chùa Hạ.
Bàn thờ trong chùa Trung.
Bàn thờ trong chùa Thượng.
Ngoài chùa Chính, trong khuôn viên chùa còn các công trình khác như nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà Khách và một số am thờ nhỏ…
Chùa Tây Phương là nơi tập trung những kiệt tác hiếm có của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ, phù điêu và tạc tượng. Khắp chùa chỗ nào có gỗ là có chạm trổ.
Các đầu bẩy, các bức cổn, xà nách, ván long… đều có chạm trổ đề tài trang trí quen thuộc của dân tộc Việt: hình lá dâu, lá đề, hoa sen, hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù… rất tinh xảo được tạo ra dưới bàn tay thợ tài hoa của các nghệ nhân mộc xứ Đoài.
Trong chùa có 64 pho tượng cổ cùng với các phù điêu có mặt tại mọi nơi. Các tượng tạc bằng gỗ mít được sơn son thếp vàng.
Nhiều pho được tạc cao hơn người thật như 8 pho tượng Kim Cương và Hộ pháp, cao chừng 3 m, trang nghiêm phúc hậu.
Đặc biệt, bộ tượng “18 vị La hán chùa Tây Phương” được coi là tác phẩm kinh điển của nền nghệ thuật cổ Việt Nam. Bộ tượng này gồm hai tượng đặt ở chùa Trung và 16 tượng ở chùa Thượng (>> Chùm ảnh: Vẻ đẹp huyền thoại của 18 vị La Hán chùa Tây Phương).
Các bức tượng được tạo hình với những dáng điệu, biểu cảm nét mặt vô cùng sinh động, là nguồn cảm hứng cho nhà thơ Huy Cận sáng tác những câu thơ lay động lòng người trong bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương”.
Quang cảnh nhìn từ sân chùa.
Trong chùa có 64 pho tượng cùng với các phù điêu có mặt tại mọi nơi. Các tượng được tạc bằng gỗ mít được sơn son thếp vàng. Nhiều pho được tạc cao hơn người thật như 8 pho tượng Kim Cương và Hộ pháp, cao chừng 3 m, trang nghiêm phúc hậu. Hệ thống tượng ở chùa Tây Phương gồm:
·    Bộ tượng Tam Thế Phật với ba pho tượng Phật: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai (còn gọi là Tam thân: Pháp thân, Ứng thân và Hóa thân) ngồi ở tư thế tọa thiền, y phục gập nếp đơn giản phủ kín cơ thể, được coi là có niên đại đầu thế kỷ 17.
·    Bộ tượng Di-đà Tam Tôn: gồm tượng đức Phật A-di-đà, đứng hai bên là Quan Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát.
·    Tượng Tuyết Sơn miêu tả đức Phật Thích ca trong thời kỳ tu khổ hạnh: mỗi ngày ăn một hạt kê, một hạt vừng, tự hành xác để vươn lên thế giới tinh thần sáng láng. Tượng màu đen thẫm khoác áo cà sa mỏng, tay chân gầy khẳng khiu, xương nổi lên trước ngực. Toàn bộ cơ thể chìm trong suy tưởng, mắt trũng sâu, hướng về nội tâm.
·    Hai bên tượng Tuyết Sơn có tượng A Nan và Ca Diếp đứng hầu.
·    Tượng đức Phật Di lặc tượng trưng cho vị Phật của thế giới cực lạc tương lai. Người mập mạp, ngồi hơi ngả về phía sau, toàn thân toát ra sự thỏa mãn, sung sướng.
·    Tượng Văn thù Bồ Tát: đứng chắp tay, chân đi đất, các ngón chân bấm móng xuống mặt bệ.
·    Tượng Phổ Hiền Bồ Tát: chắp tay trước ngực, khuôn mặt sáng rộng nổi lên trên tấm thân phủ đầy y phục.
·    Tượng Bát bộ Kim Cương, thể hiện trình độ rất cao về nghệ thuật lắp ghép gỗ và cách bố cục, chuyển động của một thân thể mang giáp trụ trong các thế võ.
·    Mười sáu pho tượng Tổ với phong cách hiện thực: Đó là Ưu-ba-cầu-đa, Đê-đa-ca, Di-trà-ca, Bà-tu-mật, Phật-đà Nan-đề, Phục-đa-mật-đa, Hiếp Tôn giả, Thương Na Hòa Tu, Mã Minh, Ca-tỳ-ma-la, Long Thụ Tôn giả, La-hầu-la-đa, Tăng-già Nan-đề, Già-gia-xá-đa, Cưu-ma-la-đa, Chà-dạ-đa. Theo một danh sách tên các nhân vật được tạc tượng trong một tài liệu còn lưu truyền ở chùa thì đây là tượng các vị tổ Ấn Độ trong quan niệm của Thiền tông Trung Quốc (xem thêm Nhị thập bát tổ).
Mười sáu vị tổ người đứng kẻ ngồi, pho thì ngước mặt lên trời chỉ vào mây khói, pho thì hững hờ với ngoại vật, tì cằm trên đầu gối nhếch môi cười một mình nửa tinh nghịch nửa mỉa mai, có pho vẻ mặt hân hoan tươi tắn, khổ người đầy đặn tròn trĩnh, pho khác có vẻ mặt đăm chiêu lạ thường, lại có pho như đang đắn đo phân bua hay đang thì thầm trò chuyện cùng ai.
Tượng La Hầu La đúng là chân dung một cụ già Việt Nam, thân hình gầy gò, mặt dài, nhỏ, gò má cao, môi mỏng vừa phải. Chưa thấy pho tượng nào diễn tả y phục một cách hiện thực mà lại đẹp đến như thế. Dáng điệu một tay cầm gậy, một tay để trên gối rất thoải mái, đôi bàn tay trông thấy rõ từng đốt xương bên trong. Những người thợ mộc của làng nghề mộc truyền thống Chàng Sơn là tác giả của những kiệt tác tuyệt vời ấy của nền mỹ thuật Việt Nam.
Chùa Tây Phương đã là một công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc tiêu biểu cho mỹ thuật Việt Nam thời Hậu Lê (thế kỷ 17-18).
Năm 1960, nhà thơ Huy Cận đến thăm chùa, đã làm những câu thơ rất sống động và gợi cảm về hình tượng những con người đắc đạo mà lòng vẫn trầm ngâm suy tưởng về những khổ đau quần quại của chúng sinh.
Các vị La Hán chùa Tây Phương Tôi đến thăm về lòng vấn vương. Há chẳng phải đây là xứ Phật, Mà sao ai nấy mặt đau thương?
Đây vị xương trần chân với tay Có chi thiêu đốt tấm thân gầy Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt Tự bấy ngồi y cho đến nay.
Có vị mắt giương, mày nhíu xệch Trán như nổi sóng biển luân hồi Môi cong chua chát, tâm hồn héo Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.
Có vị chân tay co xếp lại Tròn xoe từa thể chiếc thai non Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn….
Các vị ngồi đây trong lặng yên Mà nghe giông bão nổ trăm miền Như từ vực thẳm đời nhân loại Bóng tối đùn ra trận gió đen.
Mỗi người một vẻ, mặt con người Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.
Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau Quay theo tám hướng hỏi trời sâu Một câu hỏi lớn. Không lời đáp Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.
Có thực trên đường tu đến Phật Trần gian tìm cởi áo trầm luân Bấy nhiêu quằn quại run lần chót Các vị đau theo lòng chúng nhân?
Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu? Sống lại cho tôi hỏi một câu: Bác tạc bấy nhiêu hình khô hạnh Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?
Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời Là cha ông đó bằng xương máu Đã khổ, không yên cả đứng ngồi.
Cha ông năm tháng đè lưng nặng Những bạn đương thời của Nguyễn Du Nung nấu tâm can vò võ trán Đau đời có cứu được đời đâu.
Đứt ruột cha ông trong cái thuở Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ Bao nhiêu hi vọng thúc bên sườn Héo tựa mầm non thiếu ánh dương.
Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la Sờ soạng, cha ông tìm lối ra Có phải thế mà trên mặt tượng Nửa như khói ám, nửa sương tà.
Các vị La Hán chùa Tây Phương! Hôm nay xã hội đã lên đường Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.
Cha ông yêu mến thời xưa cũ Trần trụi đau thương bỗng hoá gần! Những bước mất đi trong thớ gỗ Về đây, tươi vạn dặm đường xuân.

 Có thể nói, chùa Tây Phương là một trong những ngôi chùa cổ độc đáo nhất Việt Nam, với sự kết hợp giữa kiến trúc truyền thống, các tác phẩm nghệ thuật đặc sắc và cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp. Vào năm 2014, chùa đã được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt của Việt Nam.