01/06/2026

Làng cổ Bắc Biên (Hà Nội)

 

Bức ảnh chụp từ trên không mang ký hiệu H.158 do nhiếp ảnh gia D. Mercier thực hiện thời Pháp thuộc không chỉ ghi lại một góc Hà Nội xưa, mà còn vô tình lưu giữ dấu tích của một cộng đồng cư dân ven sông Hồng, những người được cho là đã định cư tại đây từ trước khi kinh đô Thăng Long hình thành. Suốt gần một thiên niên kỷ, dòng chảy văn hóa và con người ấy vẫn bền bỉ tiếp nối qua ba địa danh, ba chương cuộc đời: An Xá – Cơ Xá – Phúc Xá (Bắc Biên).

Ít có ngôi làng nào ở Hà Nội mang một hành trình viễn di đặc biệt như làng Bắc Biên ngày nay. Dọc theo biến động của con sông bồi lở, dấu vết của một cộng đồng cư dân Thăng Long cổ vẫn hiện hữu vẹn nguyên qua mái đình, ngôi đền, qua phong tục thờ tự và nếp sống được truyền đời suốt hơn mười thế kỷ.


Bức không ảnh H.158 của D. Mercier dưới chân cầu Long Biên, 

thấp thoáng những nếp nhà bãi bồi ven sông.

 

Nhìn vào bức ảnh H.158 dưới chân cầu Long Biên, người ta như thấy một lát cắt nguyên vẹn của làng quê Bắc Bộ xưa cũ: những mái nhà tranh san sát, vườn chuối, nương dâu và những lối đi nhỏ đan xen giữa xóm làng ven sông. Đây chính là vùng Cơ Xá – Trung Hà, mắt xích quan trọng nối liền dòng chảy lịch sử từ vùng đất An Xá thời Lý cho đến Phúc Xá (Bắc Biên) ngày nay.

Theo tư liệu lịch sử và thần tích địa phương (minh chứng cuối bài), khu vực An Xá xưa (vốn nằm trong nội thành Hà Nội ngày nay) từng là một vùng đất bãi bồi đông đúc, trù phú trước năm 1010. Truyền thuyết kể rằng, chính tại chùa An Xá, vua Lý Công Uẩn trong một chuyến vi hành đã nhìn thấy điềm linh: một con chó cái sinh được tám con, ngầm dự báo về một vùng đất lành, thế vững.

Trong tâm thức người Việt cổ, việc định đô luôn gắn liền với thiên mệnh. Sự xuất hiện của An Xá trong những huyền thoại buổi đầu khai sinh Thăng Long cho thấy vùng đất này đã mang ý nghĩa tâm linh đặc biệt từ rất sớm. Khi nhà vua chính thức dời đô từ Hoa Lư ra và cần nhường đất bãi An Xá để xây dựng hoàng thành, một bộ phận cư dân nơi đây đã đồng lòng di dời ra vùng bãi bồi xa hơn ven sông Hồng. Họ mang theo nếp sống, tín ngưỡng cũ cùng nghề trồng dâu nuôi tằm truyền thống, lập nên phường Cơ Xá.

Bởi vậy, lịch sử làng Bắc Biên không đơn thuần là lịch sử của một ngôi làng ven sông, mà chính là câu chuyện về những cư dân đầu tiên đã nhường đất, góp công bồi đắp nền móng cho kinh đô Thăng Long tỏa sáng.

Đền Mẫu Thoải Bắc Biên (st)

Trải qua những trận đại hồng thủy, dòng chảy dữ dội của sông Hồng nhiều lần xé toạc đất đai, đẩy một phần dải đất của làng ra giữa lòng sông, hình thành nên vùng Cơ Xá Châu. Rời xa nội đô, cư dân Cơ Xá không còn nhiều ruộng lúa như các làng đồng bằng khác. Họ buộc phải nương tựa hoàn toàn vào sản vật của dòng sông: trồng dâu nuôi tằm trên các bãi bồi mới nổi, đánh bắt cá và làm nghề vận tải đường thủy.

Theo các tư liệu cổ, vì sự hy sinh đất đai của tiền nhân, triều đình phong kiến từng ưu ái cho phép dân làng Cơ Xá được thu thuế tàu thuyền và bến đò dọc tuyến sông như một phương kế sinh nhai lâu dài. Chính đặc quyền này đã nhào nặn nên một lớp văn hóa rất riêng của cư dân Thăng Long xưa: họ không chỉ là những nông dân thuần phác, mà còn là một cộng đồng giao thương sông nước can trường, thấu hiểu tính nết của dòng sông.

Dấu tích của lớp văn minh sông nước ấy hiện vẫn lưu dấu rõ nét qua đền Mẫu Thoải ở Bắc Biên – nơi thờ vị thần cai quản miền sông nước. Suốt nhiều thế kỷ qua, người dân nơi đây vẫn duy trì đời sống tâm linh gắn bó mật thiết với mạch nguồn sông Mẹ.


Nghi lễ rước kiệu ngày hội đền/đình Phúc Xá - Bắc Biên mùng 6 tháng 3 âm lịch (st)

 

Khi bãi giữa sông Hồng tiếp tục sạt lở mạnh do thiên nhiên đổi dòng, cư dân Cơ Xá lại một lần nữa dời nhà sang bờ Bắc, lập nên Cơ Xá Bắc, sau này đổi tên thành làng Bắc Biên (thuộc quận Long Biên ngày nay). Trong mỗi cuộc chuyển cư dẫu gian nan, hành trang vô giá mà họ luôn mang theo bên mình chính là bài vị, sắc phong cùng tục thờ Thái úy Việt Quốc công Lý Thường Kiệt – vị anh hùng dân tộc, và cũng là người con ưu tú của làng An Xá cổ xưa.

Hằng năm, vào ngày giỗ của ông (mùng 6 tháng 3 âm lịch), các ngôi đình làng có chung gốc gắm An Xá khắp Hà Nội vẫn duy trì nghi lễ rước nước, rước kiệu về đình Phúc Xá – Bắc Biên để đồng lòng dâng hương tưởng niệm. Sợi dây tâm linh ấy chưa một ngày đứt đoạn.

Điều quý giá nhất ở Bắc Biên hôm nay không nằm ở những khối kiến trúc vô tri, mà ở chính con người nơi đây, những "di sản sống" giữa lòng Hà Nội hiện đại. Họ vẫn sống cùng không gian di sản, vẫn gìn giữ vẹn nguyên lễ đình, hội đền, nếp dâng hương và cách đối nhân xử thế bao dung của người Thăng Long xưa.

Làng có thể dời, dòng sông có thể đổi hướng, nhưng hồn làng và mạch ký ức ngàn năm vẫn được người dân Bắc Biên truyền đời bảo tồn, bắc một cây cầu ký ức vô hình nối từ bờ bên này sang bờ bên kia sông Hồng. Thiết nghĩ, điều cần được bảo tồn hôm nay không chỉ là một mái đình hay những ngôi đền cổ, mà là cả một không gian văn hóa sống động đã bền bỉ thở cùng nhịp đập của Thăng Long – Hà Nội suốt một thiên niên kỷ qua.

 ***

Các văn bản minh chứng:

1. "Cuốn sử biên niên bằng đồng" trong lòng quả chuông cổ làng Bắc Biên. Hầu hết các quả chuông cổ ở Việt Nam chỉ khắc bài minh tự ở bề mặt bên ngoài. Tuy nhiên, quả chuông cổ tại cụm di tích đình - chùa Bắc Biên lại vô cùng đặc biệt: Toàn bộ hệ thống bài văn minh tự ghi lại lịch sử lập làng, đặc quyền đất bãi bồi, cùng nội dung của 9 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến đều được đúc khắc trọn vẹn vào mặt TRONG lòng chuông. Quả chuông này chính là một bằng chứng pháp lý tối cao từ thời phong kiến, thừa nhận cương vực cư ngụ hợp pháp, ổn định lâu đời và đặc quyền kinh tế trên dải bãi bồi sông Hồng của người dân Phúc Xá xưa.


     2. Sắc chỉ năm Thịnh Đức thứ nhất (1653) – Xác nhận quê hương Lý Thường Kiệt. Đây là văn bản chính thống của triều đình nhà Lê (thời vua Lê Thần Tông) cấp cho làng cổ Bắc Biên. Sắc chỉ này mang hai giá trị lịch sử cực kỳ lớn:

3. Thần tích địa phương và tục "Rước nước" giao hiếu giữa các làng gốc An Xá.

Bên cạnh văn bản giấy tờ, "hồ sơ sống" minh chứng cho mạch ngầm lịch sử này chính là hệ thống thần tích và phong tục duy trì suốt ngàn năm qua:     Hằng năm vào ngày giỗ của Lý Thường Kiệt (mùng 6 tháng 3 âm lịch), các làng có chung gốc gắm An Xá cổ ở vùng nội đô và ven sông vẫn tổ chức nghi lễ rước kiệu, dâng hương về đình Phúc Xá - Bắc Biên.

 Sự kết nối tâm linh này chứng minh rằng dù đất đai có bị sông Hồng chia cắt, xé toạc thành vùng Cơ Xá Châu (bãi giữa) hay đẩy hẳn sang bờ Bắc (Bắc Biên - Long Biên ngày nay), thì nguồn cội dòng tộc và ký ức lập làng từ thời tiền Lý vẫn được bảo lưu vẹn nguyên qua các thế hệ.

 

23/05/2026

Mảnh giấy cũ nói về thời đã xa nhưng vẫn thấy gần gũi

 Nhân đang đọc sách của Ngài Vương Hồng Sển mà hứng thú viết bài này.


 
 

Nhờ ChatGPT sửa tờ giấy gốc bên trên cho rõ ràng hơn - các bạn nhấn vào ảnh sẽ được phóng to.

 

Với tôi, đồ cũ hấp dẫn không chỉ vì “cổ”, mà vì nó giữ lại được hơi hướng của một thời đã xa. Một tờ giấy như thế này, nếu nhìn bề ngoài thì cũng chỉ là lịch tàu xe (cũng may được in trên giấy tốt, mực chuẩn mới giữ được như thế kia). Nhưng đọc kỹ lại thấy cái cách người xưa nghĩ, cách họ đi lại, cách họ làm ăn, thậm chí cả cách họ dùng từ và nhìn thế giới.

Đó là thứ mà sách lịch sử không cho mình cảm nhận rõ bằng một món đồ cũ nhỏ bé.

Người sưu tầm lâu năm thường quý nhất không phải giá tiền, mà là cảm giác chạm được vào đời sống thật của quá khứ. Một dấu mực nhòe, một kiểu chữ cũ, một tên ga đã đổi tên… đều giống như mảnh thời gian còn sót lại. Và càng thú vị hơn khi nhận ra con người ngày xưa cũng lo chi phí, cũng thích đi chơi theo hội nhóm, cũng quảng cáo dịch vụ và cũng mong “đi cho mở mang”… Tức là khoảng cách trăm năm bỗng nhiên gần lại rất nhiều.

Có lẽ vì thế mà người mê chơi đồ cũ thường không chỉ là người “sưu tầm vật” mà là người đi tìm ký ức và không khí của một thời đại.

 Ta không chỉ nhìn nó như “đồ cổ”, mà nhìn như dấu vết của đời sống con người. Chính điều đó làm việc sưu tầm trở nên có chiều sâu và có tình cảm.

Nó như nối ta với quá khứ một cách gần gũi vậy.

 

22/05/2026

Cháo cá chợ Cũ

 Vương Hồng Sển (1902 - 1996)

Tôi giữ nguyên bản của Ngài. Đây là trích trong loạt bài Ngài đã viết về ẩm thực ở Saigon. 

 


Người nào, năm nay 1985, khi đi đường Võ Di Nguy, trước khi quẹo qua đường ở bên hông Nha Ngân khố ngày xưa, chưa tới bốn năm căn gì đó, gọi ty thuế vụ của cái chế độ tiêu tùng ông Thiệu, nơi bên phố tay trái, có một căn lụp xụp, chủ nó đã dông mất từ lâu nhưng cảnh nhà không đổi, vẫn cũ xì cũ xọp, ban đêm đóng vài miếng ván ọp ẹp, lối ra vào tối gài bằng mảnh cửa thông xám đen vì lâu năm, nay người chủ mới lại ở, vẫn để y không đổi, người khách qua đường tôi nói trên đây, nào biết căn nhà bề ngoài coi xập xệ này, lại là nơi khách phong lưu trước đây chiều chiều hay sáng sáng, vẫn tấp nập nơi đây và giành nhau từng tô cháo vừa ngon, vừa bổ vừa rẻ tiền.

Tôi muốn nói tô cháo cá Chợ Cũ, danh bất hư truyền, từ ngày tôi lên học (1919), đến ngày dẹp tiệm (1975), đã cha truyền con nối, suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi, vì trước khi tôi lên đây ăn học, thì quán kia đã có vẫn y một chỗ, vẫn không thay đổi mặt tiền bề ngoài, và món cháo, hương vị vẫn không đổi và vẫn cung phụng cho khách kén ăn trải trăm năm danh tiếng.

Tôi đã biết chủ của cái quán ấy, từ một ông già Quảng Đông, ốm cao nhưng lưng thẳng như chữ I, đứng nấu từng tô cháo cho mọi người, qua thằng chệc con chủ tiệm, vần đứng bán làm đầu bếp nấu cháo như cha, vẫn áo thun trắng thật sạch, cụt tay, vẫn ốm và cao như ông già Quảng lỏng khỏng không khác, kế tiếp đến thằng Tàu, cháu nội ông già “cháo cá”, cũng vẫn y như một: áo thun, ốm và lưng ngay chò bất khuất, xuống đến thằng chắt nội, ba mươi cái xuân, một cây lưng thẳng, một tay cầm muỗng cán dài, một tay cầm tô hứng cháo nóng sôi sục sục, không một giọt rớt rơi, khách nào muốn ăn sang, nó đập cái thụp, bỏ vào tô một hột gà tươi đỏ rói, tiếp đến thằng chít nội thửa kế, vẫn áo thun, vẫn ốm thon thon, kế đến tháng tư năm 1975, nồi cháo không ai chụm lửa, gia quyến anh Ba Tàu bán cháo đã rút lui về xứ, bỏ lại đây bao nhiêu khách đô thành đã mất một món ăn không thay thế, và tô cháo, còn chăng là trong bài tưởng niệm vô duyên này.

Nhớ ai như nhớ thuốc lào, mới chôn điếu trước lại đào điếu sau (muốn hát “điếu trước điếu sau” hay hát “điếu xuống điếu lên” chi cũng mặc, và đó là câu hát xưa ngoài nớ, nay có thể nhại lại, rằng: “Nhớ ai như nhớ tô cháo cá năm nào, sáu xu (0$06) một chén, ngọt ngào ăn thêm, ăn thêm, muốn ăn thêm, thì hãy hô to: “thiêm xức” tức đã nói được hai tiếng Quảng: thiêm (thêm lên) và “xức” là thực, ôi có khó gì tiếng Quảng Đông ấy. Khi nghe hai tiếng “thiểm xức” thì bỗng chốc có tô khác bưng lại, hơi lên nghi ngút, ăn chẳng thấy no, mà no làm sao được vì lỏng bỏng toàn nước ngọt cá thịt, xương heo và thịt tôm hùm làm bổ, nói rằng cháo Quảng, mà mò không thấy một hột gạo, họ nấu toàn bằng tấm mắn, nói đó là tấm cũng chưa được đúng, cháo Quảng rõ là hồ sệt sệt, người mới mạnh dùng không trúng thực người mệt mỏi ăn vào nhẹ bụng mau tiêu, tô cháo cá Chợ Cũ, quả là một tô thuốc tráng thần, mất tô cháo là mất đi một món ăn ngon bổ khỏe, chưa có món rẻ tiền nào thay thế.

Một tô “bột gạo nát nấu thật nhừ”, thả vào một mớ đu đủ ngâm nước cam thảo, gừng xắt vụn, ít lá hành, ít bụi tiêu cà, đĩa cá tươi để riêng đặt trên ăn bàn chờ khách tự tay cho cá vào tô, muốn ăn tái hay thật chín tuỳ sở thích, giá một cắc bạc (0$10) thời đó; khách nào muốn ăn thêm cá, gọi thêm một đĩa tính bốn xu (0$04), kẻ nào muốn ăn sang, gọi một tô cá trộn gỏi riêng, giá mười xu (0$10), muốn dằn bụng thật no, kêu thêm bánh “dầu cha quảy”, mỗi cái bánh một xu (0$01), vị chi xài chưa tới một cắc ngoài, mà vừa xong một bữa vĩ vèo, vừa nhẹ nhàng thơ thới, lại thêm bổ khỏe.

Thật là giang san không đổi! Viết đến đây, nhớ câu “Giang san tận thuộc hoàng trào Tống, mãi thủ Hoa sơn lão đạo manh” 1 không biết thế đúng hay chăng nguyên văn của ông Trần Đoàn, chỉ nhớ đó là tích vua Tống sai đòi thuế, Trần Đoàn, xưng là lão đạo manh, trả lời hòn Hoa Sơn, năm trước vua Khuông Dẫn, đánh cờ thua, đã ký bán núi cho ông dứt khoát lâu rồi!

Sướng vậy thay thời thái bình, phong lưu vừa tầm tay với tính từ xu, từ cắc. Nhưng quên nói quán xệch xạc, lôi thôi, nền lót gạch Tàu đỏ bụi giày đóng từng lớp dày ít năng chà rửa, nhưng vẫn thật sạch, không xả rác, bàn ghế bằng cây thông thao lao đã lòn cạch vì lâu năm, quán tuy xấu bề ngoài, thượng khách toàn là lựa chọn, hoa khôi công tử, không kén mặt, miễn ngon là được, một hôm tôi đưa vợ chồng ông Đoàn Quân Tấn cùng đi với phu nhơn là chị Nguyễn Thanh Long, đến quán thưởng thức món cháo cá, ông là cử nhân Pháp Sorbonne, chuyên về văn phạm và có tiếng là khó tánh, bà là bằng cấp đầy mình,, giỏi Pháp văn, nói tiếng Anh như lặt rau, kể về tánh khó và kỹ, không thua chồng, sức bực bánh mì mua cho chó ăn mà bà vẫn lấy bàn chải chải tro bụi rồi mới dâng cho cẩu xức, hai ông bà vào quán, dùng xong bữa, đưa nhau ra đường, ông phê bình: “Chớ chi quán biết dọn dẹp trang trí, gạch bông trắng trẻo, bàn ghế tân thời, thì hay biết mấy!”. Chị Long đi giữa, tôi cung kính nói với: “Thưa bộ trưởng, nếu như vậy, thì đã hết xính xái Ba Tàu!” (Viết 19-10-1983).

Cùng một loại với cháo này, trong Chợ Lớn, đường Thuỷ binh cũ đêm khuya hay sáng tinh sương mới bán, là gánh “bạc của chúc” của mấy xẩm già gánh bán, cháo sơ sài, mỗi chén hai xu (0$02), vài ba “bạch quá” thả lỏng lẻo trong chén cháo trắng “bột hồ”, không thêm thắt, không mời mọc, khách đứng húp hay ngồi xề bên lề xẩm ta không cần biết, cháo thanh đạm nêm chút muối vào măn mẳn, cắn bạch quả bùi bùi, bao nhiêu mệt nhọc canh bài, buổi trác táng với mấy con phì phà chảy (tỳ bà ca nhi) đều tiêu tan, muốn bồi bổ thêm, thì đường Nguyễn Trãi, đường Đồng Khánh, qua khỏi ngã tư đại lộ Tổng đốc Phương, có quán bán cháo Quảng Đông nấu với lòng heo, đây là cháo thập cẩm có đủ bao tử, gan, dồi trường và phèo, bao nhiêu ấy chưa đủ tẩm bổ khách làng chơi đàn đúm, lại còn thêm một hột gà tươi để lấy sức phung phí từ đêm hôm, rõ là cháo Tàu, cháo Ngô, tướng dịch chữ của Pháp: “C est le chao” (hỗn độn, hỗn mang), nếu dịch “đó là nồi cháo ngô” cũng nên thông qua và cho là được được!