21/11/2022

Vô đề



Đàn bà hay cảm thấy cô đơn về đêm (khi không có chồng ở bên) nên thường nhẹ dạ nhất lúc này. 

Đám sở khanh biết thế, nên vào thời điểm này chúng mon men tán tỉnh, gạ gẫm - thẽ thọt những lời êm tai, ngọt ngào...

Thả thính một lần chưa chắc đã dính, nhưng vài lần là ăn bả.

Đàn bà ấy mà, đã ngã lòng rồi thì họ lăn xả vào yêu, bất chấp hậu quả một cách trơ trẽn. Lúc này, trong lòng họ chỉ có người tình; vâng lời như một chú cún (ở đây mình không định và không dám có ý xúc phạm tới chị em phụ nữ, những người đoan chính - Mà thực tế quanh ta đã và đang có nhiều chuyện này).

Âu cũng là có vay, có trả. Sao để người ta cô đơn?

Nên có ai tin đâu Nhân - Quả. Chỉ khi nhận được hậu quả mới tỉnh thì đã muộn.

Hỡi ôi!!!

 

 


17/11/2022

Hàng nước cô Dần - Trích tùy bút "Hà nội băm sáu phố phường" - Nhà văn Thạch Lam

 


Cô Dần là một thiếu nữ hãy còn trẻ, cứ nghe tên cô thì đủ biết (cái lối đặt tên của cổ nhân ta nghĩ cũng thẳng thắn và thực thà mang cái tuổi trong tên mình, không cần giấu giếm). Tuy vậy cô là một thiếu nữ đãm đang. Một mình cô trông nom cái cửa hàng nước ở trước chợ Đông Xuân, bên cạnh bà cô bán hàng xôi, và cũng như bà, cô bán hàng từ chín giờ tối, suốt đêm cho tới sáng.

Cửa hàng của cô cũng không có gì: một vài miếng trầu, một vài phong thuốc lào, một bao thuốc lá bán lẻ, vài cái bát uống nước, như cái bát uống nước ở tất cả các hàng nước Việt Nam, đặt úp xuống mặt chõng. Nhưng hàng cô Dần có một chút đặt biệc hơn: cô không bán nước vối hay nước chè tươi. Cô bán nước chè, tôi cũng không biết chè mạn hay chè hột, chỉ biết là một thứ chè cũng dễ uống. Và có lẽ bán cho người ở đất "văn minh", nên cô bán nước chè uống sôi, dù trời rét hay trời nóng, mùa đông hay mùa hạ. Ấm chè bọc cái áo gai rất cẩn thận, dựng bên một cái hỏa lò than cũng hồng, mang một ấm nước bao giờ cũng reo sôi.

Ai uống nước đường thì có cốc thủy tinh, một xu một cốc. Cô múc vào cốc một thìa đường, tuy đường đắt mà xem ra cô cũng múc nới tay lắm. Nghiêng bình chè rót đầy cốc, vừa đưa lên cho khách với cái nhìn của đôi mắt nhỏ, lanh lẹ, hai con người đen bóng loáng, như hai con mắt của một con vật non nào.

Ăn cơm, uống rượu xong mà được một cốc nước chè được rất nóng thì ai chả thích. Nên hàng cô Dần đông khách lắm, có khi cô trở tay bán không kịp. Kẻ đứng, người ngồi xúm vòng quanh, nhưng ngồi xổm mà thôi, vì hàng nước ấy lại còn có cái đặc biệt khác nữa là không có ghế ngồi. Những bác phu xe đặt nón, lần túi lấy một điếu thuốc lào, vài thầy đội xếp uống chè từng ngụm nhỏ trên xe đạp gác ở hè với vài khác hàng áo ngắn, còn trẻ tuổi, hay điểm thêm vào vị nước một vài câu bông đùa nhè nhẹ đối với cô hàng. Thỉnh thoảng, một bác phu già, rụt rè thầm khẽ bên tai cô hàng nước, hoặc trả tạm một vài xu ở món nợ còn lại, hoặc nằn nì xin chịu nữa. Cô hàng díu đôi lông mày nhỏ lại một chút, nhưng cô dễ tính, rồi cũng bắng lòng.

Một hàng nước đắt hàng vì các thức quà bán đã đành, nhưng đôi khi cũng đắt khách vì cả cô hàng. Cô hàng nước Việt Nam dù ở dưới bóng đa, bên ruộng lúa, hay ở dưới mái hiên của đường phố, ở đâu cũng vậy, miệng cười tươi của cô hàng là dây liên lạc khắp cả mọi người. Cô hàng nước Việt Nam, từ xưa đến nay đã chiếm một địa vị quan hệ trong lịch sử, và trong văn chương: đã có nhiều tiểu thuyết bắt đầu ở một hàng nước và kết cục cũng ở đấy.

Ồ, nhưng mà chúng ta hãy trở lại cô hàng nước của ba mươi sáu phố phường. Cô nhũn nhặc lắm: cô mặc cái áo tứ thân nâu cũ, giản dị và đảm đang như các cô gái Việt Nam. Trong mấy ngày Tết, người ta mới thấy cô khoác cái áo mới hơn một chút, vấn vành khăn tròn trặn và chặt chẽ hơn. Và dưới mái tóc đen, lúc đó mới lấp lánh mặt đá của đôi bông hoa vàng, bà cụ đánh cho cô năm vàng còn rẻ, làm cái vốn riêng, chắc thế.

Cô không đẹp, chỉ xinh thôi. Và tính cô, cũng như tuổi cô, còn trẻ con lắm. Thấy khách hàng nói một câu bông đùa, cô đã tưởng người đó chòng ghẹo mình, díu đôi lông mày lại, và ngoe nguẩy cái nhìn. Khách trông thấy chỉ cười. Nhưng cô cũng không giận ai lâu: chỉ một lát cô lại vui tính ngay.

Một hai năm nữa, lớn lên đi lấy chồng, ai là người thay cô trông nom ngôi hàng nước của "Hà Nội là động tiên sa"? Cô bé em cô, hẳn vậy, sẽ ngồi bán hàng thay chị, lại que diêm, điếu thuốc, miếng trầu, để kéo dài mãi mãi cái phong vi bình dân và mộc mạc của các cô hàng nước cùng với các cô hàng xén kĩu kịt đi chợ Đông, chợ Đoài, là cái tinh hoa thuần túy Việt Nam từ xửa xưa đến giờ.

12/11/2022

Phở - Trích tùy bút "Phở" của Nguyễn Tuân viết năm 1957

 

...

- Phở còn là một món ăn rất nhiều quần chúng tính. Ông muốn ăn phở ngồi hay đứng lù lù ra giữa hiệu mà ăn cũng không ai nói, ăn ngồi ăn đứng tuỳ thích. Phở là món ăn bình dân. Công nông binh trí, các tầng lớp nhân dân lao động, thành thị, nông thôn, không mấy ai là không biết ăn phở. Người công dân Việt-nam khi còn ẵm ngửa, cũng nhiều vị đã nếm phở rồi; chỉ có khác người lớn là cái bát phở của tuổi ấu trĩ chưa biết đau khổ ấy chưa cần phức tạp, không cần hành hăng, chanh chua, ớt cay. Con nhà nghèo, nhiều khi lại không cần cả thịt nữa, mà căn bản phở nhi đồng vẫn là bánh và nước dùng thôi.

- Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được. Trong một ngày ăn thêm một bát phở, cũng như lúc trò chuyện ăn giọng nhau mà pha thêm một ấm trà, cùng thưởng thức với bạn bè. Hình như không ai nỡ từ chối một người quen rủ đi ăn phở. Phở giúp cho người thanh bạch đủ điều kiện biểu hiện lòng thành theo với bầu bạn nó hợp với cái túi nhỏ của mình. Phở còn tài tình ở cái chỗ là mùa nào ăn cũng thấy có nghĩa thâm thúỵ Mùa nắng, ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt qua lưng, thấy như giời quạt cho mình. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt chợt thắm tươi lại. Trong một ngày mùa đông của người nghèo, bát phở có giá trị như một tấm áo kép mặc thêm lên người. Đêm đông, có người ăn phở xong, tự coi như vừa nuốt được cả một cái chăn bông và tin rằng có thể ngủ yên đến sáng, để mai đi làm khoẻ. Dùng những hình ảnh bình dị để nói lên mùa đông ở Việt-nam, tôi cho không gì nên thơ bằng cái hình ảnh một bếp lửa hàng phở bến ô tô nhiều hành khách quây quanh chờ đợi bát mình, vai rụt xuống một tí, người nhún nhẩy như trẻ em đang thú đời. Tết, nhà ai cũng bánh chưng, cá kho, thịt đông, nhưng vẫn rất đông người tình cờ mừng tuổi nhau ở những hiệu phở khai trương từ mùng hai Tết.

- Vì hay la cà với phở, mà tiếng nói của tôi được chính xác và giầu có thêm lên. Trước kia tôi cứ tưởng chữ “xương xẩu” là một tiếng đôi, và chữ xẩu chỉ là một tiếng đệm. Ông hàng phở đã làm cho từ ngữ tôi hôm ấy thêm lên một danh từ. Xẩu khác với xương, dùng để chỉ những cái đầu xương phở có dính thịt và gân róc chưa hết. Tôi đã thấy những người phu xe kéo vào hiệu phở gọi một chén rượu với một bát xẩu. Tôi còn được nghe một ông phở khác nói đến mỡ gầu, cái tảng thịt dắt mỡ quí giá nó không béo quá, mà lại quánh như sáp, ròn và mềm ấy mà gọi là một cánh gầu; và lúc cầm vào cân thịt tái, thịt tươi còn nhảy lên dưới làn dao, mà gọi là một quả thăn. Trong tiểu thuyết Việt-nam trước đây, nhớ người ta có viết cái truyện “Anh hàng phở lấy vợ cô đầu”. Tôi còn được nghe một cô điếm ngày xưa ví von than đời tàn ” đời hồi này như một gánh phở bánh trương mỡ nguội đóng váng”. Phở nguội tanh thật là buồn hơn cả cái sự đời cô gái thập thành bị ma cô lừa bỏ. Chữ nghĩa của ta hay thật ! Người ta bảo chữ phở là xuất xứ từ chữ “ngưu nhục phấn”, và ta đã Việt-nam hoá chữ phấn thành ra chữ phở... Chữ nghĩa của ta hay thật !

''Phở gánh ''
Cũng ở Hà Nội, có một phương thức bán phở đã dần lùi vào quá vãng, đó là hàng phở gánh – chỉ bán từ đêm muộn đến gần sáng, khi phố xá đã bắt đầu vắng hoe, gió lành lạnh và tiếng rao của người bán phở thì văng vẳng cả con ngõ nhỏ.
Phở gánh là món ăn phổ biến trên tất cả các con phố Hà Nội thời xa xưa
Tiệm phở lưu động xếp gọn gàng trong hai đầu quang gánh, một bên là những chiếc bát, đũa, thìa, âu... xếp gọn gàng, bên kia là nồi nước dùng sôi sùng sục, tỏa thứ mùi thơm khó cưỡng, đánh thức cả cơn đói, cả cái thèm thuồng còn đang lơ mơ ngủ gật.
Tiếc thay, gánh phở cùng những ông hàng phở ngày nay đã lùi về quá vãng, các tiệm "phở hiệu" giờ mở cả ngày lẫn đêm trên các con phố không ngủ ở Hà Nội. Nhưng phở Hà Nội gốc bây giờ cũng hiếm.

 ...

Thật ra, ăn phở cho đúng, đúng cái "gu" của phở, phải ăn thịt chín. Thịt chín thơm hơn thịt tái, mùi thơm miếng thịt chín mới biểu hiện đúng cái tâm hồn của phở. Thêm nữa, về mặt nhận thức tạo hình, người thẩm mỹ bao giờ cũng thấy miếng thịt chín đẹp hơn miếng thịt tái. Thường những hiệu phở không tự trọng, hay thái sẵn thịt chín, thái cứ vụn ra không thành hình thù gì cả, ai đến gọi là rắc vào bát. Có thể việc ấy không hề gì với khách hàng không cần ăn no vội. Nhưng cũng trong một cái hiệu vẫn thái thịt vụn ra ấy, ông chủ phở rất là phân biệt đối xử và không san bằng các thứ khách: đối với những khách quen, với những người có thể ông chưa biết quí danh nhưng ông đã thuộc tính ăn, những người cầu kỳ ấy mà bước vào hiệu, là ông đã đặt ngay tay dao vào những khối thịt chín đặc biệt như khối nạm ròn, nạm dắt hoặc khối mỡ gầu, thái ra những miếng mỏng nhưng to bản, với cái sung sướng bình tỉnh của một người được tỏ bày cái sở trường của mình trong nghề. Ông nào ăn phở mà có chất hoạ thì thấy muốn vẽ tranh tĩnh vật ngay. Có những lúc ông phở ấy gắt, gắt với vợ ông, vì ông thái không đẹp. Một ông làm đầu bếp hiệu chim quay trong hồi Hà nội chiếm đóng, nay cũng ra mở phở và thích múa dao nói chuyện với khách về cái khoa thái. "Chặt thái loài có cánh đã khó, mà thái miếng thịt bò không xương còn khó hơn. Tôi dạy mãi mà đàn bà nhà tôi vẫn không làm được, đàn bà thường chỉ thái bánh thôi". 

 ...

Phở Đức Tụng - Tú Mỡ sáng tác năm 1933:

Trong các món ăn quân tử vị
Phở là quà đáng quý nhất  trên đời
Một vài xu nào đắt đỏ mấy mươi
Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm béo bổ
Này bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ
Ngọn rau thơm, hành củ thái trên
Nước mắm, hồ tiêu cùng dấm ớt điểm thêm
Khói nghi ngút đưa lên điếc mũi
Như xúc động tới ruột gan, bàn phổi
Như dục khơi cái đói của con tì
Dẫu sơn hào hải vị khôn bì
Xơi một bát thường chưa thích miệng
Kẻ phú quý cho chí người bần tiện
Hỏi ai đã nếm chẳng ưa.
***
Nhà Văn Thạch Lam viết về Phở:

Phở là thứ quà đặc biệt của Hà Nội. Không phải chỉ riêng Hà Nội mới có nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon”. 
Thạch Lam đánh giá “Phở ngon phải là phở cổ điển. Phải nấu bằng thịt bò, nước dùng trong và ngọt; bánh dẻo, mềm mà không nát. Thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, ớt với hành đủ cả, rau thơm tươi, hồ tiêu Bắc, giọt chanh cốm lại điểm thêm một chút cà cuống thoảng nhẹ như một nghi ngờ”.
“Đó là thứ quà suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, phở trưa và phở tối”. ..

11/11/2022

Sự trả thù ngay và nhanh - phần 3

 Tuấn Long


Nói thật, trong đồ mang theo người, lúc nào mình cũng có 1 cái súng cao su loại thửa riêng và vài chục viên bi sắt. Nhưng chưa bao giờ mình dùng để bắn chim chóc hoặc là động vật...Mặc dù mình bắn tương đối chính xác trong vòng 20m – nó chỉ để phòng thân tầm xa mà thôi.

Nhìn thằng con trai ném chết chú sóc con mình rất tức giận. Chưa kịp tỏ thái độ thì chợt nghe tiếng chít…chói chang.

Con sóc mẹ quay phắc người lại, khuôn mặt nhuốm nhem máu. Đôi mắt to tròn, long lên dữ tợn nhìn thẳng vào thằng con trai. Nó lao vút tới, mạnh mẽ và quyết liệt. 2 chân trước xòe ra – người và đuôi thẳng tắp như mũi tên, chỉ 3 bước nhảy đã lao thẳng vào mặt thằng kia.

Sống lưng mình lạnh toát. Sự căm thù của người mẹ thật dữ dội, có lẽ ở con người cũng đến thế là cùng. Bất chấp sự chênh lệch thế lực, sống chết.

Thằng con trai vung mạnh tay, hất văng con sóc ra xa. Lăn xuống đất mấy vòng, con sóc lại quay ngoắt người, tấn công mạnh mẽ lần nữa - rồi lại văng ra xa. 

Thằng con trai hoảng hốt xì xồ với đứa con gái, rồi 2 đứa vội vã lên xe nổ máy, phóng chạy. Con sóc phóng theo, một bước nhanh, lao thẳng lên đầu con bé, làm nó hét váng lên. Rồi con sóc chuyền sang đầu thằng con trai, cào như bới đất, làm xước mặt, tóe máu nó. 

Chiếc xe phóng nhanh, loạng choạng đổ xuống, trượt dài đến vỉa ta luy mới văng lại đường, hất mạnh 2 đứa nằm xõng xoài, bất động.

Chuyện lớn rồi, lại có yếu tố nước ngoài nữa. Mình khóa xe tại chỗ, rồi chạy nhanh tới. Nhìn 2 đứa có vẻ chỉ bị ngất tạm thời. Con sóc thấy  mình lao tới vội vàng vọt về chỗ mấy đứa sóc con...

Mình đề khí, hống lớn: Có ai không - Cứu với. Ba lần như thế, tiếng kêu được núi đá vọng vang xa hơn, hiệu quả hơn.

Lúc sau từ đầu đường có bóng mấy chú công an và người dân đi xe máy lao tới. Mình huơ tay ra hiệu và chỉ hiện trường.

Lúc nữa thì họ gọi được y tế đến. 2 đứa cũng chỉ bị choáng ngất, cũng không bị thương gì trừ mấy vết xước xát trên người và mặt.

Công an tách riêng, hỏi rõ mình về sự việc xảy ra. Mình cũng chỉ hàm hồ nói: Đang đi, thấy phía trước, 2 đứa nhỏ phóng nhanh, rồi không hiểu lý do gì mà ngã lăn ra vậy. Mình chỉ xe máy mình cách đó 50m để chứng minh là mình chả liên quan, mà chỉ là người chứng kiến và hô hoán thôi.

Quan sát hiện trường từ chỗ xe mình, họ xác định mình không liên quan. Hỏi giấy tờ, lý do có mặt ở vùng này rồi lưu số điện thoại và cho đi thôi. Sau này cũng không thấy ai hỏi han đến nữa.

Thật là trò nghịch dại mà nhận hậu quả tai hại. 

Người làm, Trời nhìn - Trời có mắt. 

Vạn vật hữu linh  - chúng sinh bình đẳng.

Nếu không có dải ta luy, 2 đứa rơi xuống vực thì không biết hậu quả như thế nào ?

Lần đó, ở lại vui chơi với dân bản 2 ngày, rất nhiều kỷ niệm đẹp.

Lúc về, bà con lưu luyến gửi bọc to đùng thức ăn và quà - thế này đi đường không lo mất tiền ăn quà rồi.

Không dừng ở Than Uyên, cứ thẳng đường về Hà Nội. Đâu có cảnh đẹp thì đỗ lại, dở thức ăn ra nhắm và ngắm cảnh. Đường về thanh thản hơn nên tối hôm đó đã có mặt ở nhà.

Phần 1-> 

 Phần 2->

Tuấn Long




09/11/2022

Nhân Tâm

 st trên net

 

Tôi nhớ hồi còn nhỏ, có lần một người đàn ông ghé vào nhà tôi xin tiền. Ông nói ở quê lên đây chữa bệnh, giờ đã mất hết tiền rồi, không còn tiền về quê nên ông phải đi xin. Mẹ tôi đưa cho ông số tiền ít ỏi bà có và hỏi ông ăn cơm chưa rồi bảo tôi xới cho ông bát cơm nguội với mắm. Bà lấy cho ông cái áo của anh tôi cho ông ấy mặc…

Ông ăn xong, cầm cái áo và tiền cứ vừa đi thụt lùi ra cổng vừa chắp tay chấp bái vừa nói: “Tôi đội ơn cô, cầu Trời Phật ban phước cho nhà mình….!”*

Với một đứa trẻ ở quê, đó là một câu chuyện lạ, tôi tò mò níu áo Mẹ, – “Mẹ, ông ấy quê ở đâu…? Ông ấy bị bệnh gì…? Ông ấy đi xin được nhiều tiền không…?”

Mẹ mỉm cười: “Mẹ không hỏi.”

-“Tại sao Mẹ không hỏi…?”

-“Ừ, người ta xa quê, rơi vào cảnh khốn cùng thì hỏi về quê hương là đụng vào nỗi đau của họ. Người thành đạt rất tự hào khi nói về quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, người sa cơ thì xấu hổ khi nói về quê của mình. Mình cho người ta có một chút mà mình lại chạm vào nỗi đau, nỗi xấu hổ của người ta thì không phải, không đúng. Làm vậy là ác tâm…!”

Tôi lại băn khoăn: “Ông ấy sắp chết hả Mẹ…? Ông ấy có xin đủ tiền về quê không…?”

Mẹ nhìn xa xăm… “Ừ, phần lớn con người dù có thế nào thì vẫn muốn khi mất, được chôn trên mảnh đất nơi mình sinh ra, nơi chôn nhao cắt rốn… Cái đó gọi là tình yêu quê hương….! À, lúc nãy con đưa cho chú ấy bát cơm bằng một tay rồi chạy biến đi không mời là sai đấy nhé…!” Tôi xấu hổ dụi mặt vào ngực Mẹ. Bà nghiêm khắc: “Tại sao con được dạy đưa đồ cho người lớn phải đưa bằng hai tay mà hôm nay con lại chỉ đưa bát cơm bằng một tay cho chú…? Chú ấy đi xin, nhưng không có nghĩa là con được phép đưa đồ cho chú bằng một tay…

Làm vậy người ta sẽ nghĩ Mẹ không biết dạy con tôn trọng lễ phép với người lớn tuổi. Hôm nay, người ta phải đi xin hay sắp chết thì con người vẫn luôn có phẩm giá của họ. Con không được khinh khi người ta vì biết đâu sau này mình sẽ như họ…!” Tôi càng xấu hổ và rúc sâu hơn vào lòng Mẹ vì biết mình sai…

Ngày bé, những bài học Mẹ dạy cứ nhẹ nhàng như vậy nhưng nó đi vào đầu tôi và ở đó, không thể quên. Những bài học đã hình thành nên tính cách, con người của tôi hiện tại. Khi lớn, tôi mới hiểu hết những lời dặn và sự tinh tế trong cách cư xử, trong các bài học của Mẹ. Nó cũng làm cho tôi nhận biết người có nhân tâm hay ác tâm, tinh tế hay hời hợt qua hành vi, lời nói, cách ứng xử, hành động, hành vi của họ chứ không phải nhân danh việc của họ làm.

Khi chịu khó để ý, suy nghĩ để nhận ra đâu là hành động xuất phát từ nhân tâm, đâu là từ nhân danh nhân tâm, ta sẽ thấy có rất nhiều việc làm nhân danh nhân tâm nhưng thật ra nó lại phục vụ cho một mưu toan, mục đích khác…

Đôi khi chúng ta để cho bản thân bị đánh lừa và khi số đông bị lừa thì nó sẽ là tai hoạ cho xã hội, cho cả dân tộc…

Tôi khát khao, các bài học trong môn văn học và giáo dục công dân là những bài học đơn sơ như thế, để con người có thể phân định rõ các giá trị và trả nó về đúng giá trị của nó, dần loại bỏ các hành động nhân danh để xã hội là một xã hội trung thực và nhân văn đúng nghĩa…!

 

08/11/2022

Cách ăn theo mùa của người xứ Bắc.

Trương Việt Anh.

(đây là quan điểm riêng của tác giả, nên tôi không biên tập)



 

 (Mình chưa đồng ý với tác giả vì: Nói chung, ăn theo mùa là đương nhiên từ xa xưa, nay do công nghệ và thương mại nên ăn theo mùa là không đúng với đa số dân thành thị, cả như Hà Nội. Nói riêng, ăn theo mùa, không cứ dân Hà Nội, dân miền Tây Nam bộ cũng vậy, rất đặc sắc...)

Hà Nội vốn là dân kẻ chợ nên người nơi đây rất sành ăn, lại có vị trí trung tâm của vùng đồng bằng Bắc bộ, nên thực phẩm chế biến rất đa dạng, từ thủy hải sản, cho đến lâm thổ sản, vừa có đồ khô dùng trong chế biến, kết hợp với các đồ tươi sống theo mùa ở quanh Hà nội.

Mùa nào thức ấy, các bà các cô luôn mua những thực phẩm ngon lành nhất về thổi hồn cho những món ngon gia đình.

Từ thời xa xưa, đã nghe bà, mẹ kể lại những món ngon cổ truyền, cho đến thời bao cấp, con gái chúng tôi điều đầu tiên là phải học cách đi chợ, học cách lựa chọn mua đồ chợ, bởi bao giờ cũng có hai loại đồ ngon và không ngon, lá nếp hay tẻ, gà ngon hay gà già, rau ao hay rau sông, đồ cho người ăn hay đồ nuôi gia súc… rồi thịt mua thế nào, tươi hay bị cũ... từng ngày, từng buổi chợ, các cụ truyền dạy vốn sống đấy, rất kỹ và rất riêng. Khi mua nguyên liệu về, phải biết phối hợp kỹ, món nào đi với món nào, không được ghép tùy hứng.

Hôm nay đọc được bài viết của nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, cả một bầu trời kỷ niệm ùa về trong tôi, có những thứ tưởng như đã ngủ yên… đó là món cà nén gói trong những mảnh lá sen già. Đọc đến đấy, ôi chao, nhớ sao là nhớ!

Món cà ngày ấy là những quả cà xanh được muối chua với riềng, lại nén bằng những hòn đá nặng đến óp hết quả cà mặn, trắng phau trong những chum sành nhỏ, trên cùng là nan tre đan thành cái đậy rất duyên. Hôm nào đi chợ tôi cũng ghé hàng cà pháo nén giòn tan, dưa củ cải muối chua vàng óng, cà bát nén, củ xu hào, rồi dưa gang nén, những cây dưa cải muối cả cây to để nấu canh dưa…

Ngày trước khi muối cà dưa, người xưa làm kỹ lắm, không ào ào muối xổi cho nhanh, rồi bỏ vào túi ni lông như bây giờ.

Nhà tôi cạnh làng Láng, nơi có những mớ rau thơm nhỏ, gói bán thơm phức, những sóc cua đồng, những mớ rau bọc trong lạt bằng thân chuối… những bìa đậu trắng ngà… cuộc sống lúc bấy giờ tuy nghèo nhưng bữa cơm luôn đẹp mắt và thơm mùi vị.

Tôi nhớ Làng Láng, nhớ chợ Cống mộc, làng Quan nhân, làng ven Đường láng ngày ấy với những ngôi nhà có vườn rộng, ao rộng nhiều cây ăn quả, nhiều luống rau thơm gia vị, rau muống , mùng tơi , giàn mướp … đường làng lát gạch nghiêng và những cánh đồng lúa thơm ngát mùa lúa chín … ngày nay đô thị hoá mọi cảnh vật đã khác xa .

Chợ Cống mộc gần nơi tôi ở là nơi tập trung bán sản vật đủ các làng xung quanh mang tới, làng Láng, Nhân Chính, Quan Nhân, Mọc, Cót… ngày nào tôi cũng được dạo chợ quê vài vòng nên nhớ rất rõ những hình ảnh ấy trong đầu. Những hình ảnh bu gà đan bằng tre, người bán cân xong làm thịt luôn tại chợ, những sóc cua đủ loại cua cái, con đực càng to, cua đá là màu ghi, cua mầu đỏ… bao giờ cũng có mướp, rau đay, mùng tơi, khoai sọ, rau rút, cà chua, sấu non… để nấu với món này.

Về các món chua của Hà Nội thì mùa nào thức nấy, mùa hè là mùa sấu non, muỗm non, quả dọc nướng, quả thanh trà, quả nhót, quả dứa, quả me xanh, lá me… người Hà Nội rất thích canh rau luộc,nấu canh chua nên các loại quả, lá chua cho vào canh luộc để lấy nước chua ăn với cà pháo.

Đến mùa đông, ai cũng mong chờ các loại rau bắp cải, xu hào, khoai tây, cà chua nhờ thời tiết rét đậm và chất đất miền bắc nên vị của các loại rau này ngon tuyệt vời, nhớ nhất là món lá bắp cải già thái nhỏ, muối với rau răm, rồi hành lá cắt khúc 4 phân, hành củ muối, kiệu muối, rau cần muối… thôi thì đủ loại. Loại nào cũng ngon, cũng thơm.

Bắp cải luộc chấm trứng, khoai tây, cà rốt, bí xanh nấu với xương lợn hay nước dùng gà.

Khoai tây mùa đông Hà nội cứ bở và ngọt thỉu đi, nấu canh cũng ngon mà xào không với hành cũng ngon tuyệt, rồi hoa lơ đơn xào thịt bò và cần tây, tỏi tây, hành tây thơm ngào ngạt.

Ngày xưa khó khăn ăn súp lơ xào mà ngon hơn thịt ( giờ toàn súp lơ kép Đà Lạt, khan hiếm loại súp lơ đơn ngày xưa )

Nhìn thấy xu hào lại nhớ món nem rán tuyệt vời !

Không có xu hào có thể thay bằng giá đỗ, ngày xưa các cụ mang cả chum làm giá đỗ và lá che phủ bên trên ra chợ sàng sẩy, bỏ vỏ đậu xanh cân bán cho khách, các cụ làm thuần khiết theo lối cổ truyền nên ăn yên tâm không giống bây giờ.

Mùa đông là mùa của món thịt đông đặc trưng hoặc giò thủ tự đông do thời tiết lạnh của ngày đông chứ không cần cho tủ lạnh ( sẽ bị lẫn mùi các thực phẩm khác), và thịt đông ăn kèm với dưa bắp cải muối và hành muối ngon tuyệt.

Và mùa đông cũng là mùa để nấu những món canh dưa với lạc, sườn lợn, bạc nhạc bò hoặc cá

Món bò nấu sốt vang cũng thật hợp ăn với bánh mỳ

Món ba tê béo ngậy ăn với dăm bông , bơ và bánh mỳ ròn rụm kèm tương ớt cay, ngọt.

Mùa đông là nhà nhà quây quần nấu giả cầy ,lươn, ốc , ếch với chuối đậu mắm tôm, mẻ nghệ , giềng ăn kèm với bún

Các loại bánh lá buộc lạt tre và để trên các thúng giá cũng đan bằng tre hết, thời khó khăn đói kém nên tuyệt nhiên không thấy nhựa và dây ni lông, túi ni lông cũng ít, toàn gói lá chuối, lá dong, lá sen, lá bàng, lá mít, lá khoai… ấy vậy mà khiến người ta phải nhung, phải nhớ.

Người đi chợ thì xách theo cái làn, cái giỏ cói… dùng đi dùng lại cả năm vẫn còn lành lặn.

Do dùng toàn đồ từ tự nhiên, nên nhà nào nhà nấy phải qua mấy ngày mới đổ rác, vì đã nuôi lợn gà ăn hết rau dư và thức ăn thực phẩm thừa…

Mùa sen thì có hạt sen tươi, nhãn lồng Hưng Yên mang lên thì hay nấu chè sen nhãn, chim hay vịt nhồi hạt sen tươi, gạo nếp hay cốm, nấm hương, miến, thịt băm bên trong tần nhỏ lửa thơm lừng.

Vào mùa vịt cỏ, món ngon này cũng rẻ nữa, dễ dàng đem nấu bún măng hoặc nấu sấu, khoai sọ rau rút, hoặc lọc ra thái miếng kho với húng lìu ăn cơm.

Cốm non chấm chuối tiêu, hoặc cho chút thịt băm trộn trứng tráng nữa, quấy tí bột sắn dây loãng xong rắc cốm để nguội thành chè cốm, hoặc làm cốm xào đường ăn vào bữa nhỡ buổi chiều.

Mùa hoa bưởi thì ướp với mía, rồi mùa rươi làm chả rươi với vỏ quýt. Mùa củ niễng thì xào củ niễng với trứng hay thịt ăn với cơm gạo mới gặt ngon tuyệt.

Món nào cũng theo mùa mới có, nhất là rau, món cà tím tròn nấu bung với đậu tẩm nghệ nướng, thịt ba chỉ, chút mẻ, tía tô lá lốt… từng món ngon theo mùa cứ thế phát triển, được những gia đình người quê gìn giữ rất tự nhiên, mùa nào thức nấy.

Mỗi món ăn sẽ càng thêm ngon, nếu thực phẩm thời trân, kết hợp đúng loại chế biến cổ truyền còn tuyệt biết nhường nào.

Tôi sẽ cố gắng ghi nhớ các món ngon ngày xưa của người xứ Bắc, để có dịp lại rủ nhau nấu nướng cho gia đình, bạn bè và những người thân yêu.

Giờ đây cuộc sống công nghiệp hơn, người ta không còn chú ý đi chợ và tập trung nấu ăn nữa nên vị ngon cổ truyền đang dần mất đi. Chợ quê nào cũng thấy tập trung bán cho số lượng khách hàng là công nhân các nhà máy, ăn thật đơn giản, tiện lợi và rẻ nữa, chỗ nào cũng quay thịt gà vịt kiểu Lạng Sơn, rồi tối muộn 7,8 giờ vẫn bán thực phẩm cho mọi người đi làm về đi chợ, làm sao ngon được. Nghĩ cũng tội.

  


06/11/2022

Sự trả thù ngay và nhanh - phần 2

 Tuấn Long


Không nghĩ, đôi trẻ kia có ý đợi mình. Thấy mình ra xe, họ tiến tới xủng xoảng với mình, nhìn thái độ và ánh mắt như nói muốn cùng mình đồng hành. Mình bèn dùng tiếng phổ biến của người Thái – Tày - Choang: Ná đẩy a, mí mì á… và pây khoai nhé… ra ý mình quen độc hành.

Bà chủ che miệng, gập người cười, ánh mắt lấp lánh tựa chị hai Quan họ hát bài Người ơi người ở đừng về vậy. (chém gió tý)

Với vẻ thất vọng, nhưng họ cũng nổ máy xe, ngồi đợi mình xuất phát. Tùy thôi – đường ai nấy đi mà.

Trời vẫn nắng chói chang, nóng rát như là mặt trời gần sát đầu thì phải. Trước mặt, đường nhựa sáng như gương, hắt lên lấp lánh. Quen rồi, với lại đeo kính râm chuyên dụng cho phượt nên không ảnh hưởng lắm. Mình tạm duy trì tốc độ 40km/h cho an toàn, dù đường ở đây vắng.

Nói nhỏ với các bạn, đây là một trong những trục đường buôn lậu trọng điểm, vận chuyển thuốc phiện và các loại ma túy từ bên Ai Lao sang, nên không hề đơn giản. Công an thường xuyên tuần tra và họ dùng súng AK nhé. Nếu bị nghi ngờ, không tuân theo yêu cầu dừng lại, họ sẽ bắn chỉ thiên đó; lúc sau thôi, từ 2 đầu đường sẽ có đủ loại phương tiện và người lao đến…Còn lũ buôn hàng cấm thì cũng chả thiếu gì hàng nóng như lựu đạn và súng các loại. Nếu không may gặp phải cả hai phía đấu súng thì phiền hà không nhỏ đâu, vì là đạn thật đó (mình gặp một lần trên đường 6 - mạn Sơn La, may có kinh nghiệm nên vưỡn tồn tại).

Thấy tốc độ mình thấp, 2 đứa trẻ kia vọt qua, nhưng cũng không nhiều. Đi độ 30 phút thì đường bắt đầu vào đoạn nguy hiểm, nhiều dốc – đèo quanh co. Một bên là núi cao, dốc đứng. Một bên là vực với độ sâu vài chục mét là ít; vì có đoạn, mình ngó xuống thấy bóng người ngắn như bao thuốc lá (vậy phải khoảng 100m).

Nhưng vì mình trực chỉ đường theo hướng Bắc, nên có khi gặp dãy núi, ánh mặt trời bị núi che thành ra đường râm mát. Thích lắm, do khuất bóng nên cảnh hiện ra hùng vĩ. Khí trời thoáng đãng, tinh khiết, trong lành vô cùng (hãy Đi và Thấy). Ruộng bậc thang, rừng cây, rồi suối, núi và những bản làng nhỏ bé… xuất hiện như cảnh tiên vậy. Phải dừng lại chụp thôi để ghi lại những khoảng khắc không hề dễ gặp trong đời. Thân quen nhưng vẫn lạ lẫm vô cùng.

Đi Phượt bụi một mình mới cảm thụ được những khoảng khắc như vậy. Đi theo nhóm, bị gò bó và ồn ào, những lời bình phẩm nhạt nhẽo; sao thấy được tiếng gió, tiếng rừng núi, tiếng chim vang lừng phía xa hoặc chí chóe gần bên… Ta nghe được, hòa vào cùng thiên nhiên mà tâm trạng ta cũng thư thái, buông xả vậy.

Đồng điệu cùng tự nhiên không dễ có được à.

Chợt thấy phía trước 2 thanh niên dừng lại, tay chỉ chỏ về phía vạt rừng cây ven đường vẻ hứng thú. Mình dừng lại cách họ khoảng hai chục mét, ngó nghiêng theo. Đằng nào cũng phải dừng lại uống nước, trời nóng quá - bà chủ lúc nãy treo vào xe chai nước chè 1,5l, bảo: Để anh đi đường uống cho nhớ vị nhà em !!! (lại chém)

Có một gia đình sóc 4 con đang đùa nghịch trên cây vẻ hứng thú. Nhìn kỹ, có lẽ một mẹ và 3 con sóc con. Chúng hồn nhiên chạy nhảy vui thú, vun vút trên mấy cành cây pơ mu cánh đường khoảng chục mét, không để ý đến người đang đứng gần đấy. Dạn thật, mà vui mắt.

Hai thanh niên xuống xe, lấy máy ảnh chụp với vẻ thích thú.

Mình định nổ xe máy đi tiếp thì chợt thấy thằng con trai cúi người, nhặt hòn đá ven đường, miệng xì xồ với đứa con gái. Đứa con gái níu tay thằng con trai vẻ không đồng ý. Thằng đàn ông cười toe toét, giằng tay ra, rồi lại xi xồ vẻ trấn an. Thấy đứa con gái không phản ứng, thằng đàn đông quay người về phía lũ sóc. Vung tay mạnh mẽ một cách tương đối có nghề.

Hòn đá vung thẳng ra như viên đạn. Nhưng dù sao với khoảng cách 10m cũng đã chả còn bao nhiêu lực, dù vậy cũng đủ mạnh mẽ đập vào đầu chú sóc con nhỏ bé.

Con sóc nhỏ văng nghiêng, tóe máu, rơi xuống tảng đá vàng dưới gốc cây. Nảy lên rồi mới rơi xuống lần nữa. Nằm im, không thấy biểu hiện động đậy nào.

Sóc mẹ lao xuống, rụi đầu vào đứa con. Nó như cố lăn cho chú sóc con ngồi dậy, nhưng không được. Sóc con mềm oặt, lăn theo đầu rũi của mẹ. 

Nó đã chết vì hòn đá to đập mạnh vào cái đầu nhỏ tý như trứng chim cút.

Thằng con trai trợn mắt, há mồm to vẻ như ngạc nhiên, như đắc ý lại như vô tội. Lúc sau, hai đứa nhìn về phía mình với vẻ mặt phân bua: Đây chỉ là tai nạn. Chắc chúng nghĩ: Chỉ là con vật nhỏ bé, vô tích sự

phần 3-> 

Phần 1->

Tuấn Long



 

05/11/2022

Cao lâu - tửu điếm xưa ở Hà Nội thời thuộc Pháp

  Bảo Thư (Tạ Thu Phong)


Những năm đầu thế kỉ XX, Hà Nội có rất nhiều tiệm cao lâu của người Hoa. Các tiệm này theo chân những “chú Khách” sang Việt Nam tránh chiến tranh loạn lạc. “Cao lâu” có nghĩa là ngôi nhà có lầu cao, dùng để chỉ những quán ăn của người Hoa. Lâu ngày, nhắc đến cao lâu chả ai còn nhớ đến nghĩa đen của nó nữa mà chỉ gợi đến hình ảnh của tiệm ăn bóng nhờn mỡ với những món thịt quay hay mằn thắn thơm phức của chú Khách rốn lồi.

Thông thường các tiệm cao lâu có hai lầu. Bề ngoài cơ bản giống nhau, nhưng bên trong mỗi tiệm có cách bài trí riêng. Khu vực khách ăn uống được xếp trên lầu 2, dưới nhà là quầy thu tiền, chỗ nấu nướng và nơi bán lẻ đồ ăn như thịt quay, bánh bao, bánh ngọt cho người mua mang về. Đôi khi khách đông quá thì chủ quán cho kê một vài bàn giáp chân cầu thang dưới nhà để phục vụ.

Khi mới xuất hiện ở Việt Nam, cao lâu chỉ là quán ăn bình dân lộn xộn và mất vệ sinh. Tường ám khói đen nhẻm, cầu thang, tay vịn và sàn nhà luôn nhầy mỡ, lâu ngày những chất cặn thức ăn, mồ hôi, mỡ thừa cáu lại dưới sàn thành một thứ hỗn hợp đen quánh, bóng nhờn. Sự mất vệ sinh này có lẽ xuất phát từ thói quen sinh hoạt không mấy sạch sẽ của các chủ tiệm người Hoa.

Chú bồi bàn (còn gọi là "tiểu nhị" hay "hầu sáng") luôn có cái khăn màu cháo lòng vắt vai dùng để lau bàn, lau ghế và lau cả mồ hôi trên mặt nữa. Gọi đồ ăn cho bếp, báo tính tiền cho khách, bồi bàn đều phát cái loa mồm ông ổng xuống dưới nhà. Tiệm ăn lúc nào cũng ầm ĩ, huyên náo.

Vì lẽ này mà món ăn của tiệm cao lâu dù rất ngon nhưng sự ồn ào mất vệ sinh không phù hợp với phong cách tinh tế, lịch sự của người Hà Nội, nhất là thực khách thuộc tầng lớp thượng lưu.

Mãi đến độ chiến tranh Trung - Nhật cuối thập niên 1930, các chính khách Trung Hoa Dân Quốc và những người Hoa lắm tiền chạy loạn sang Việt Nam, thì các tiệm cao lâu mới bắt đầu chú ý đến bài trí và vệ sinh sạch đẹp, để phục vụ khách sang trọng. Một số tiệm cao lâu còn tổ chức sòng bạc (phán thán) cho khách giải trí. Nhiều tiệm còn thuê cả ca nữ người Hoa thậm chí là gái điếm phục vụ khách cao cấp.

Nói đến tiệm cao lâu nổi tiếng của Hà Nội xưa phải kể đến Quảng Sinh Long trên phố Hàng Hài (nay là nhà số 16 phố Hàng Bông). Quảng Sinh Long nổi tiếng với món chim quay ngọt mềm. Hãy thử tưởng tượng trong cái lạnh lẽo mùa Đông xứ Bắc, ngồi trên lầu cao nhìn mưa bay lất phất mà nâng chén Mai Quế Lộ nâu sánh, ngắm nghía cái mềm béo ngon ngọt của chim quay Quảng Sinh Long thì còn gì thú bằng.



Nhà văn Vũ Bằng, trên tạp chí Văn học số Xuân năm 1971 (xuất bản ở Sài Gòn) kể rằng, mỗi lần đi ăn tiệm cao lâu cùng Nguyễn Tuân thì “quả là không chịu được”. Ngày tất niên, nhà văn tài hoa họ Nguyễn thường mời bạn bè ra Quảng Sinh Long uống Mai Quế Lộ, đồ ăn là mấy con chim quay. Nguyễn Tuân chỉ ăn mấy cái chân, còn bao nhiêu nhường cho bạn bè tất. Kết thúc của bữa tiệc tất niên này thì bạn bè ai cũng đói vì chủ nhân chả gọi thêm món gì.




Gần Quảng Sinh Long là tiệm Tự Hưng Lâu (nay là nhà số 23 phố Hàng Bông), nổi tiếng với món thịt bò xào cải làn và cơm lá sen, đây cũng là địa chỉ quen thuộc của các văn nghệ sĩ tiền chiến.

Nhưng phố Bông Hài không phải là nơi có nhiều tiệm cao lâu. Người Hà Nội xưa mỗi lần muốn đãi bạn cho “sang sang một tí” vẫn rủ nhau lên phố Khách (phố Hàng Buồm). Đây đích thực mới là “tửu điếm trà đình” của Hà Nội. Trong các tiệm cao lâu phố Hàng Buồm nổi tiếng phải kể đến Đông Hưng Viên Đại Tửu Gia (nhà số 88) với món cánh gà rán da giòn và thịt quay rất mềm thơm. Nhưng làm nên tên tuổi của Đông Hưng Viên không phải là thịt quay hay cánh gà chiên giòn mà là bánh ngọt. Vào dịp Tết Trung Thu, tiệm bánh của hiệu này đông nghịt. Nhà văn Thượng Sỹ (Nguyễn Đức Long) rất “nghiện” món bánh ngọt của Đông Hưng Viên, trưa nào cũng phải đảo qua Hàng Buồm làm cái bánh ngọt của tiệm này rồi mới đi đâu thì đi. Tiệm Đông Hưng Viên cũng là địa chỉ quen thuộc của Nguyễn Tuân. Trên căn gác của tiệm, từng trang bản thảo tiểu thuyết Thiếu Quê Hương (năm 1940) đăng trên Hà Nội Tân Văn lần lượt ra đời.

Sau năm 1954, tiệm Đông Hưng Viên được thay thế bằng hiệu ăn Kim Môn. Tiệm này phá bỏ cách bài trí cổ, thiết kế theo lối tân thời với cầu thang dát kim loại màu vàng, trải thảm. Sạch sẽ và sang trọng đấy, nhưng sự hấp dẫn của món cánh gà rán và bánh ngọt ngày xưa thì không còn nữa.

Phố Hàng Buồm còn có tiệm Tự Lạc Hiên cũng rất đông khách. Nếu Quảng Sinh Long có món chim quay, Đông Hưng Viên với cánh gà rán thì Tự Lạc Hiên thu hút khách bởi các món điểm tâm buổi sáng như bánh bao, xíu mại, mằn thắn và đặc biệt là buổi trưa uống trà Tàu nhấm nháp với bánh ngọt. Ngoài ra còn rất nhiều tiệm cao lâu khác như Nhật Tân Lâu (nhà số 47), Hồ Tiên Lâu, Di Hinh Lâu, Tây Nam Tửu Gia (nhà số 100), Phú Lai, Mỹ Kinh (nhà số 74), Tây Hồ (nhà số 72), … tạo nên nét ẩm thực độc đáo của Hà Nội.

Đặc trưng của các tiệm cao lâu là món ăn được chế biến bằng nhiều loại gia vị công phu, cầu kì. Để khêu gợi tính tò mò và câu khách, các món ăn được đặt tên rất lạ tai. Chẳng hạn tiệm Đông Hưng Viên có món “Giăng năm nhũ cáp”, hoặc “Qua lục ngư câu”; tiệm Mỹ Kinh có món “Thảo quần điệp vũ”; …

Phố Hàng Buồm cũng nổi tiếng với món thịt quay của người Hoa. Ngạn ngữ Hà Nội có câu : “Thịt sơn son, dưa cuộn tròn”, chỉ sự kết hợp hoàn mĩ của hai cực phẩm ẩm thực Hà Nội là thịt quay Hàng Buồm và dưa cải Hồ Tây. Thịt quay Hàng Buồm, ngoài bì vàng ruộm giòn tan, ăn với dưa cuộn tròn là thứ dưa cải trồng ở vùng hồ Tây được muối chua, thì không gì ngon bằng.

Năm 1945, trong sự kiện “Hoa quân nhập Việt”, một số đầu bếp người Hoa từ Vân Nam theo chân tướng Lư Hán mang đến món ăn lạ đối với người Hà Thành. Đó là món hủ tíu “Ngẩu pín phàn” với nguyên liệu là… bộ phận sinh sản của bò đực. Món ăn độc và lạ này ngay lập tức trở nên rất thu hút giới sành ăn ở Hà Nội, bởi vậy trong thực đơn của các quán ăn người Hoa không thể thiếu “Ngẩu pín phàn”, món ăn này giúp chủ quán thu bộn tiền.

Năm 1954, nhiều chủ tiệm cao lâu người Hoa di cư vào Nam, trong đó có tiệm Đông Hưng Viên. Ông chủ tiệm này vào Sài Gòn mở tiệm bánh ngọt ở khu vực chợ Bến Thành và bí quyết làm bánh ngọt được ông ghi chép lại và truyền cho người con gái thứ bảy tên là Hoàng Thị Loan.

[...]

Các tiệm cao lâu ngày xưa chẳng còn chút dấu vết ngoài hàng thịt quay của hiệu Vạn Thành ở nhà số 108. Những Quảng Sinh Long, Đông Hưng Viên, Tự Lạc Hiên, ... nổi tiếng ngày nào giờ chỉ còn trong hoài niệm của thế hệ cao niên.

Mà thế hệ cao niên giờ cũng chẳng còn mấy nữa rồi.

 


04/11/2022

Sự trả thù ngay và nhanh - phần 1

Tuấn Long





Năm 20xx, mình nhận được lời của một ông bạn người Thái trên Lai Châu mời lên dự đám cưới con trai. Nói ra cũng dài dòng lắm.

Mình lên Lai Châu cũng 6, 7 lần gì đó, chỉ đi một mình  (Phượt bụi mà), nhưng 2 lần gần đấy gặp nhiều sự kiện, có nhiều kỷ niệm đẹp nên mình trở thành người bạn của một bản người Thái nơi đây. 

Bản này cũng khá lớn, cách đường cái khoản 5 - 7km, ở nơi địa thế đẹp, có suối, có núi, lại gần cánh rừng nguyên sinh rất rộng với dân cư khoảng 200 - 300 người. Núi ở đây là đá vôi nên suối rộng (tất nhiên giữa dòng vẫn có nhiều đá lô nhô) nhiều vũng nhỏ, rất trong và có nhiều cá - một trong những món ăn truyền thống của dân tộc Thái. 

Vì là núi đá vôi nên dân bản không lo sạt lở khi lũ về; bởi vậy bản này tồn tại khá lâu năm, từ hồi ông Đèo Văn Long còn thống trị. Họ nói đây là bản gốc, các chi thứ đều đã ra ngoài lâp bản khác từ nhiều đời rồi. Cũng may là bản này không có Đạo mà vẫn thờ cúng truyền thống nên mình an tâm kết giao.

Sau đó, có công chuyện gì họ cũng thông báo và mời mình lên tham dự, trân trọng lắm. Vẫn còn đang công tác, rất khó thu xếp đi được (mỗi lần đi ít nhất cũng mất 3 ngày) nên toàn phải gọi điện và thi thoảng gửi thư viết tay lên để Bản thông cảm mà vẫn giữ được nghĩa tình. Lần này khó từ chối vì ông bạn (không dám nói tuổi vì mình hơn cậu ta một giáp, nhưng vất vả, thiếu thống nên nom già hơn mình nhiều - thứ nữa, họ lấy vợ sớm, nên con lập gia đình cũng sớm) là người có vai vế trong bản, lại thân nữa. Thế là thu xếp công việc đi thôi.

Từ Hà Nội theo đường 32, đến thị trấn Than Uyên cũng quá Ngọ (khoảng 300km gì đó – dùng điện thoại cùi nên không có GPS). Phải nghỉ ở đây hồi phục năng lượng, với lại độ 4 - 5h chiều cũng sẽ có mặt ở bản. Ngày hôm đó tạnh ráo, nhưng trời nắng, rất nóng, tạo cảm giác khô rát. May có kinh nghiệm và cũng đã quen đường trường nên mình cũng không ể oải lắm.

Vào quán mọi khi vẫn ghé khi lên đây (cô chủ đảm, nhanh nhẹn và chế biến món ăn ngon...), rửa mặt cho mát mẻ rồi gọi cút rượu, đĩa măng nộm và bảo nhà chủ chần tái cho nửa cân thịt bò với nước phở, thêm nhiều hành tước nhỏ và tiêu (món này giúp nhanh khôi phục năng lượng, ăn mềm, dễ tiêu hóa hơn – mình nghĩ thế, theo truyện Miếng bít tết của Jack London)

May quá, cô chủ vẫn nhận ra mình nên nhiệt tình lắm – quen vẫn hơn là thế. Món này chấm với chẩm chéo và mấy hạt dổi dầm nhỏ do cô chủ ưu ái thì thôi rồi - dưới xuôi, ngồi với mấy ông bạn thì có đi nửa yến thịt.

Ấy, cái vui của kẻ giang hồ vặt chỉ lụn vụn vậy thôi mà hay lắm.

Đang nhẩm nha với thú vui nhỏ mọn thì chợt có tiếng láo nháo trước mặt. 2 thanh niên người châu Á tầm ngoài 20 - khá sáng sủa; 1 nam – 1 nữ líu ríu chỉ bàn mình và 2 cái ghế ý bảo xin ngồi cùng bàn. Mình thường ngồi góc trong cùng, ngó ra cửa, tầm quan sát tốt… Quán này rộng mấy trăm m2 à, mà bàn còn nhiều dù tầm ấy cũng vẫn đông khách, sao họ lại chọn bàn này ? 

Mình hỏi tiếng Việt, rồi tiếng Anh mà họ cứ lúng túng phát âm – thoạt nghe có tiếng Tung Của – Nghĩ  bàn rộng,  hơi tách riêng (bởi cô chủ thu xếp do biết tính mình khó), họ lại là khách ngoại quốc nên sủa bậy câu: Nỉ hảo. Ai ngờ họ đáp ngay: Hảo..., hảo... và vội vàng ngồi xuống.

Bất ngờ là sao còn bàn mà họ lại chọn nơi mình ? – Âu cũng chả mấy quan trọng nên lờ đi. Mà cũng phục lũ này thật, tiếng Việt, tiếng Anh chả biết mà lại ngáo ngơ đến vùng này ? Còn trẻ vậy chắc là sinh viên ĐH bên kia biên giới đi khám phá – Khác biệt với đồng bào họ là thường đi theo hội nhóm, xe ô tô, ồn áo, xô bồ lắm. Thây cha nó, rượu ngọt, món ngon sướng miệng ta cứ hưởng đã….

Kể cũng hơi tức vì trước mặt là người đẹp nên cũng không dám nhồm nhoàm. Kém đi sự thú vị.

Chén xong, ra bàn nước hút thuốc và uống nước chè (các bạn tới vùng này đừng bỏ qua chè Shan tuyết nhé, lạ và rất thú vị). Nhờ cô chủ cho mượn cái võng ra sau vườn  ngả lưng và hẹn 30’ sau đánh thức.

Ây da, thân quen mới hàm hồ thế, họ thích chứ cứ khách sáo thì còn lâu. Người dân nơi đâu, bản tính cũng đều thân thiện và mến khách nhưng lại tùy thuộc vào thái độ của mình. Mình trân trọng họ sẽ được báo đáp ngay, chứ đừng ta đây có tiền hoặc người xuôi, người … mà lên mặt. Trong lòng họ khinh nhưng mặt ngoài vẫn niềm nở dạ - vâng (xin lỗi, họ giàu lắm đó vì có khi họ là trạm trung chuyển, liên lạc hoặc … của buôn hàng quốc cấm có khi). Dân giang hồ sành sỏi đấy, đừng lầm.

Nghỉ ngơi một giấc, ra khởi động tý và thân ái chào quyết thắng bà chủ rồi lại sảng khoái lên đường. Cô chủ lưu luyến bảo: Trời còn nắng lắm, tẹo nữa hẵng đi... 

Thôi, đi dứt khoát kẻo lại ngại.

Phần 2-> 

Phần 3->

Tuấn Long